Những vấn đề đặt ra với doanh nghiệp sau cổ phần hoá (kỳ 3)
Chính phủ quyết tâm chỉ đạo để đến cuối năm 2006, cả nước còn 1800- 2000 doanh nghiệp nhà nước, chủ yếu nằm trong các tập đoàn và tổng công ty nhưng cũng phải chuyển sang hình thức công ty TNHH một thành viên. Từ đó hình thành 5 - 7 tập đoàn kinh tế mạnh, cổ phần hoá hoàn toàn 7- 10 tổng công ty, hơn 80 tổng công ty nhà nước còn lại cũng chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con. Nói một cách tổng quát, tất cả đều đa sở hữu, không có hình thức tập đoàn hay tổng công ty thuần khiết quốc doanh.
Những giải pháp khắc phục
Những vấn đề hậu cổ phần hoá hiện khá bức xúc, cần có ngay các giải pháp khắc phục. Theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước rung ương, đến nay, cả nước cổ phần hoá được khoảng 50% số doanh nghiệp nhà nước. Tại Hải Phòng, số doanh nghiệp dự định cổ phần hoá cũng cơ bản hoàn thành, chỉ còn lại hơn 10 doanh nghiệp nhà nước. Ưu điểm của việc cổ phần hoá quá rõ nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế . Rõ nhất là hầu hết số doanh nghiệp cổ phần hoá là doanh nghiệp nhỏ, khó khăn về tài chính và thiếu chiến lược kinh doanh, thua lỗ lâu dài. Hơn 2600 doanh nghiệp được cổ phần hoá nhưng tổng số vốn nhà nước đem cổ phần hoá chỉ chiếm hơn 10%. Nếu thực hiện đúng đề án đã điều chỉnh thì đến cuối năm 2006 mới có khoảng 16- 20% số vốn nhà nước được cổ phần hoá. Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp cổ phần hoá hiện nay đều là cổ phần hoá khép kín, nội bộ, số đấu giá công khai ra bên ngoài còn ít. Đây chính là nguyên nhân cơ bản gây nên những vấn đề bức xúc sau cổ phần hoá.
Vì vậy, muốn giải quyết vấn đề, trước hết cần tích cực tuyên truyền và thực hiện các Nghị quyết Trung ương 3 và 9 khoá 9, Nghị định 187 và Quyết định 155 của Chính phủ về cổ phần hoá. Theo đó, việc cổ phần hoá cần có sự chuyển biến mạnh mẽ về chất; khuyến khích hình thức cổ phần hoá công khai, đưa cổ phiếu bán ra thị trường bên ngoài để thu hút các nhà đầu tư gắn với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán; tích cực thúc đẩy cổ phần hoá sang hầu hết các ngành, các lĩnh vực, nhất là các doanh nghiệp có lãi, quy mô lớn, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, phân bón, xi măng , xây dựng, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm... Theo đó, tỷ lệ vốn nhà nước đưa vào cổ phần hoá sẽ tăng, sức cạnh tranh của doanh nghiệp cổ phần sẽ lớn hơn, cổ phiếu hấp dẫn công chúng và các nhà đầu tư hơn và góp phần tích cực thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển. Điều quan trọng là thông qua cổ phần hoá các tổng công ty lớn từng bước xoá bỏ thế độc quyền và Nhà nước sẽ thu được một nguồn vốn không nhỏ để đầu tư cho các lĩnh vực khác, không phải lo bù lỗ hàng năm cho số doanh nghiệp này. Tất nhiên, Nhà nước cũng cần xoá bỏ những ưu đãi bất hợp lý đối với doanh nghiệp nhà nước, thu hẹp lĩnh vực hoạt động độc quyền của các doanh nghiệp này, tách biệt quyền quản lý hành chính với quản lý kinh tế. Việc quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn nhiều bất cập nhưng sẽ được giải quyết triệt để hơn nếu sớm hình thành tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn. Tại Hải Phòng, đề án thành lập công ty đầu tư và kinh doanh vốn đã được xây dựng nhưng đến nay chưa có kết quả. Với các chức năng và cơ chế, chính sách phù hợp, công ty đầu tư vốn sẽ giải quyết được một phần đáng kể sự lúng túng hiện nay khi quản lý phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực hoạt động của các công ty mua bán nợ nhằm giải quyết dứt điểm những tồn tại của các công ty đã cổ phần và tạo điều kiện xử lý công nợ cho các công ty khi tiến hành cổ phần hoá.
Vấn đề khó nhất hiện nay là thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường. Theo đó, giá trị doanh nghiệp không còn được tính đơn thuần như hiện nay mà bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu, vị trí lợi thế... mới bảo đảm sự công bằng giữa các nhà đầu tư và thúc đẩy kinh tế -xã hội phát triển. Một Luật Doanh nghiệp thống nhất sẽ tạo đà và tạo ra sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xoá bỏ những rào cản và sự phân biệt để các doanh nghiệp cổ phần hiện chiếm tỷ lệ áp đảo trong tổng số doanh nghiệp của Hải Phòng và Việt Nam hiện nay yên tâm đầu tư và phát triển.
Theo Phó Trưởng Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước Trung ương Hồ Xuân Hùng, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là giải pháp quan trọng nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ quyết tâm chỉ đạo để đến cuối năm 2006, cả nước còn 1800- 2000 doanh nghiệp nhà nước, chủ yếu nằm trong các tập đoàn và tổng công ty nhưng cũng phải chuyển sang hình thức công ty TNHH một thành viên. Từ đó hình thành 5 - 7 tập đoàn kinh tế mạnh, cổ phần hoá hoàn toàn 7- 10 tổng công ty, hơn 80 tổng công ty nhà nước còn lại cũng chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con. Nói một cách tổng quát, tất cả đều đa sở hữu, không có hình thức tập đoàn hay tổng công ty thuần khiết quốc doanh.
Với những định hướng đó, việc xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp càng quan trọng và cần thiết, không chỉ minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá mà còn thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước tích cực cổ phần hoá. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng từng bước tháo gỡ sẽ có cơ chế chính sách phù hợp. Trước hết phải sửa, bổ sung cơ chế chính sách tài chính, kế toán đối với công ty cổ phần sao cho phù hợp với thực tế, bảo đảm bình đẳng và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Chẳng hạn như cách tính khấu hao giữa công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước phải như nhau, lãi vay vốn ngân hàng được hạch toán vào phí sau đó mới tính tới thuế thu nhập hay cách tính cổ tức cho cổ đông ngay từ trước khi nộp thuế thu nhập... Vấn đề người lao động trong công ty cổ phần bức xúc. Vì vậy, cần sớm ban hành quy chế dân chủ tại công ty cổ phần sao cho người lao động thực hiện được quyền làm chủ và nghĩa vụ của mình, không để nhầm lẫn là làm chủ hay làm thuê, làm công ăn lương. Cũng cần sớm có Luật đình công để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động, tránh tình trạng dân chủ quá trớn, lạm dụng dân chủ...
Vấn đề cuối cùng là cơ chế chính sách bảo đảm điều kiện, môi trường thông thoáng, tốt nhất cho doanh nghiệp cổ phần hoạt động nhưng kèm theo đó phải là sự minh bạch, rõ ràng về tài chính. Hiện nay, mới chỉ có khoảng 27,5% doanh nghiệp cổ phần thực hiện kiểm toán, số doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán chỉ chiếm số lượng không đáng kể. Phần nhiều doanh nghiệp vẫn sợ công khai tài chính. Vì vậy, một nền tài chính minh bạch, rõ ràng của các công ty cổ phần sẽ giải quyết được các khúc mắc về tiền lương, thu nhập, về quản lý, điều hành của HĐQT và Ban Giám đốc, hoạt động của Ban Kiểm soát, về ăn chia cổ tức cho các cổ đông... Đây là việc làm có nhiều khó khăn nhưng cũng chính là mục tiêu nhà nước đặt ra khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nhằm giảm gánh nặng đối với ngân sách. Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đang đi vào giai đoạn nước rút, quyết định. Sự đồng sức, đồng lòng cùng với quyết tâm cao của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp sẽ tạo ra sức mạnh để biến chủ trương của Đảng, Nhà nước thành hiên thực và đạt kết quả tốt đẹp, tạo đà cho doanh nghiệp Việt Nam tích cực hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh.
Hồng Thanh