Những vấn đề đặt ra với doanh nghiệp sau cổ phần hoá (kỳ 2)
Trong điều hành còn nhiều lúng túng, sai sót, chưa đúng với quy định của pháp luật, nhiều việc làm không đúng nguyên tắc dẫn tới việc một số cổ đông có đơn kiến nghị, tố cáo nhiều lần.
Vay vốn ngân hàng- khó hay dễ?
Theo số liệu của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước thành phố, sau cổ phần hoá, nhìn chung quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé. Chỉ có 14/ 84 doanh nghiệp có mức vốn điều lệ tại thời điểm chuyển đổi đạt 10 tỷ đồng trở lên; 83,3% có mức vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, muốn mở rộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và nâng cao khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp nào cũng cần vốn lớn. Vì vậy, nguồn vốn chủ yếu mà doanh nghiệp sau cổ phần hoá trông vào vẫn là vay ngân hàng. Thế nhưng, cách thức vay vốn mà các ngân hàng áp dụng với doanh nghiệp khác hẳn khi là doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu chặt chẽ hơn về thủ tục cũng như tài sản thế chấp. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản bảo đảm là nhà cửa cũng còn nhiều khúc mắc về thủ tục. Vì thế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi vay vốn ngân hàng.
Trao đổi về vấn đề này, nhiều giám đốc ngân hàng trên địa bàn thành phố cho rằng, quan điểm chung hiện nay là không phân biệt doanh nghiệp cổ phần hay doanh nghiệp Nhà nước mà chỉ phân biệt doanh nghiệp làm ăn hiệuquả hay không hiệu quả. Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng đều phải bảo đảm các thủ tục cần thiết, trong đó tài sản bảo đảm là không thể thiếu. Cũng có một vài trường hợp được vay tín chấp nhưng không nhiều với điều kiện qua thẩm định chặt chẽ, ngân hàng nhận thấy đây là dự án tốt và có tính khả thi cao, có hiệu quả, khả năng rủi ro thấp, khả năng thu hồi vốn nhanh. Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Cửa Cấm Hải Phòng Nguyễn Văn Phong cho biết: Khi thành lập, vốn điều lệ của công ty chỉ có 24 tỷ đồng, doanh nghiệp phải hoạt động trong điều kiện thiếu vốn nên, chưa nâng được năng lực và sức cạnh tranh ngang tầm với doanh nghiệp cùng lĩnh vực hoạt động, luôn bị sức ép của khách hàng khi so sánh về giá dịch vụ, về cơ cấu hàng hoá xếp dỡ. Vay ngân hàng là một trong các phương án được công ty tính để nâng cao năng lực sản xuất.
Như vậy, có thể thấy, nguồn vốn vay ngân hàng đối với các công ty cổ phần vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao, nhưng nhìn chung chưa thật suôn sẻ. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do cả 2 phía, doanh nghiệp và ngân hàng. Số liệu thống kê cho thấy có 50% số doanh nghiệp sau cổ phần cho rằng quan hệ với ngân hàng không thay đổi nhưng có 28% cho rằng khó khăn hơn trước. Rõ ràng, việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng sau cổ phần hoá cũng là một vấn đề không nhỏ đối với doanh nghiệp.
Vai trò của HĐQT chưa rõ ràng
Người lao động chưa phát huy vai trò làm chủ
Tuy nhiên, tại nhiều doanh nghiệp, mặc dù có cổ phần nhưng phần lớn người lao động vẫn cảm thấy không có gì khác so với trước bởi phần lớn trong số họ là cổ đông thiểu số. Nhận thức của nhiều người lao động còn hạn chế nên các vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm còn hiểu một cách lơ mơ. Do đó, ngay sau khi cổ phần, nhiều người lao động đã bán non cổ phần nên quyền quản lý rơi vào tay một người hoặc một nhóm người có tiền mua được nhiều cổ phiếu, thậm chí thuộc về người trong cùng một gia đình. Như vậy những cổ đông thiểu số vẫn là người làm thuê và trong nhiều trường hợp chưa được bảo vệ đúng mức. Nhìn chung các cổ đông nhỏ thiếu thông tin, không hiểu được thực chất hoạt động của công ty, một số người coi doanh nghiệp cổ phần hoá là người vay và họ chỉ là người cho vay vốn; cuối năm, được chia cổ tức bao nhiêu biết bấy nhiêu. Nhiều cổ đông từ vị trí nhà đầu tư trở thành người gửi tiết kiệm, họ không thấy được vai trò của mình để tham gia bàn bạc, thảo luận và biểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty. Ngược lại nhiều cổ đông do không nắm rõ các quy định pháp lý về quyền hạn của cổ đông, dẫn tới việc lạm quyền và can thiệp quá sâu vào công tác quản lý, điều hành công ty, gây nên những xung đột nội bộ không đáng có...
Bên cạnh đó, vấn đề lao động, tiền lương vẫn còn có những vướng mắc nhất định. Không ít doanh nghiệp cổ phần hoá chưa biết tận dụng ưu thế của mô hình mới để tự xây dựng định mức lao động, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và chủ động trả lương cho người lao động mà vẫn áp dụng chế độ tiền lương như khi còn là doanh nghiệp nhà nước. Do đó, chưa tạo ra được động lực mới cho người quản lý và người lao động trong doanh nghiệp. Việc đóng bảo hiểm xã hội cũng gặp nhiều khó khăn. Nói tóm lại, khả năng người lao động tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp với tư cách làm chủ theo đúng nghĩa là khó thực hiện.
(Còn tiếp)
Hồng Thanh