Những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp sau cổ phần hoá (kỳ 1)
Đến nay, Hải Phòng cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 89 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, tạo ra chuyển biến tích cực trong hoạt động của các doanh nghiệp cả về quy mô và hiệu quả. Tuy nhiên sau cổ phần hoá nảy sinh một loạt vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi cần phải có các biện pháp giải quyết cụ thể, nhằm nâng cao tính chủ động, năng động, tính cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp, bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động...
Lúng túng trong quản lý phần vốn nhà nước
Trong 84 doanh nghiệp được phê duyệt phương án cổ phần hoá, có 11 doanh nghiệp thực hiện theo hình thức bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, 62 doanh nghiệp bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp với phát hành thêm cổ phiếu. Chỉ có 1 doanh nghiệp bán toàn bộ phần vốn nhà nước và 10 doanh nghiệp bán toàn bộ phần vốn nhà nước kết hợp với phát hành thêm cổ phiếu. Như vậy, cổ đông nhà nước hiện nắm giữ phần vốn 195,5 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 32,5% tổng số vốn điều lệ của các công ty cổ phần. Trong đó, có 14 doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối, 60 doanh nghiệp nhà nước giữ 10- 50% vốn điều lệ. Đây là một tỷ lệ khá lớn và để quản lý phần vốn này, thành phố có quyết định cử 77 lượt cán bộ là người đại diện quản lý, trong đó, có 8 người là của doanh nghiệp, 2 người của các Sở, ngành, 68 lượt người của Chi cục Tài chính doanh nghiệp. Hầu hết người đại diện phần vốn nhà nước tham gia vào Ban Kiểm soát của các công ty cổ phần. Cá biệt có người nắm các chức vụ chủ chốt như Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐQT, Giám đốc công ty cổ phần.
Theo Chi cục trưởng Chi cục quản lý tài chính doanh nghiệp Nguyễn Ngọc Hải, các cổ đông đại diện phần vốn nhà nước đã thể hiện tốt vai trò trên các lĩnh vực như: chuẩn bị nhân sự của công ty cổ phần, xây dựng chiến lược phát triển, xây dựng điều lệ, quy chế, kiểm tra, giám sát... Tuy nhiên, cũng theo ông Hải, đây là nhiệm vụ mới và tất cả cán bộ nghiệp vụ của chi cục đều phải làm nhiệm vụ quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hoá và tham gia bộ máy quản lý doanh nghiệp. Nhiệm vụ này đòi hỏi cán bộ quản lý ngoài nghiệp vụ kế toán tài chính phải am hiểu quản trị kinh doanh, biết rõ các ngành nghề doanh nghiệp hoạt động. Thế nhưng, trong tình hình hiện nay, hầu hết cán bộ của chi cục chỉ thông thạo về công tác tài chính nên việc tham gia, hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.
Giám đốc Sở Công nghiệp Hải Phòng Đỗ Quang Thịnh cho biết: Vai trò của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa được thể hiện rõ. Trách nhiệm và quyền hạn chưa rõ ràng. Một cán bộ của Chi cục Tài chính doanh nghiệp ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của một công chức còn kiêm thêm đại diện phần vốn nhà nước ở một số doanh nghiệp. Vì thế, số cán bộ này làm sao thực hiện tốt vai trò đại diện và nhiệm vụ quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trên thực tế là khoán trắng cho doanh nghiệp. Người đại diện chỉ xuân thu nhị kỳ đến dự họp tổng kết năm hoặc đại hội cổ đông là chủ yếu. Vì vậy, hầu như người đại diện phần vốn nhà nước hiện nay chỉ là hình thức, không làm được chức năng quản lý phần vốn Nhà nước ở doanh nghiệp, chưa nói tới việc tham gia lãnh đạo, điều hành hoặc giám sát doanh nghiệp hoạt động đúng luật. Ông Thịnh kiến nghị: vấn đề này cần được sớm nghiên cứu khắc phục.
Phó Trưởng Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước Trung ương Hồ Xuân Hùng có phần gay gắt hơn khi cho rằng việc cử người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần tuy được thực hiện trên cơ sở Nghị định 199 ngày 3-12- 2004 của Chính phủ, song rất phức tạp, thiếu thống nhất, hầu hết cử người của Sở Tài chính hoặc Sở chủ quản, Vụ kế toán kế hoạch, canh vốn còn không xuể nói gì đến mở rộng kinh doanh. Đây quả thực là một vấn đề không nhỏ khi hiện nay, Nhà nước vẫn nắm giữ phần lớn vốn trong doanh nghiệp cổ phần( bình quân là 46,5%). Điều đó lý giải vì sao chưa có chuyển động gì nhiều trong quản trị doanh nghiệp. Hầu hết ban lãnh đạo công ty cổ phần là bộ máy cũ. Nhà nước muốn bán bớt cổ phần thì lại vướng Luật Doanh nghiệp (cổ đông sáng lập)... Sau cổ đông nhà nước, cổ đông người lao động chiếm vị trí thống lĩnh do hậu quả của việc cổ phần hoá khép kín. Vì vậy, đương nhiên các cổ đông là các nhà đầu tư bên ngoài, dù là tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân chỉ chiếm vai trò thứ yếu, nắm giữ khoảng 10- 11% cổ phần, gây nên tình trạng thiếu cổ đông chiến lược. Rõ ràng, tỷ lệ vốn nhà nước và cách quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn những vướng mắc không nhỏ./.
(Còn tiếp)
Hồng Thanh