Những tình yêu đi qua chiến tranh
Chiều 11/9, tại Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh, trưng bày chuyên đề “Tình yêu trong chiến tranh” được khai mạc, giới thiệu gần 100 tư liệu, hình ảnh và kỷ vật. Qua những lá thư đã úa màu thời gian, những món quà chưa kịp trao và những cuộc đời dang dở, trưng bày giúp người xem nhìn chiến tranh từ một góc khác: nơi tình yêu, lòng thủy chung và khát vọng hòa bình được gìn giữ qua năm tháng.
Chiến tranh thường được nhớ đến bằng những trận đánh, những mất mát và hy sinh. Nhưng phía sau mỗi người lính ra trận còn có một người để nhớ, một mái nhà để thương, một lời hẹn để trở về. Có những tình yêu đã được viết thành thư, gửi theo những chuyến xe, chuyến tàu ra trận; cũng có những tình yêu chỉ còn lại trong một kỷ vật nhỏ bé, nhưng đủ sức neo giữ ký ức qua nhiều thế hệ.
Đó cũng là câu chuyện được kể tại trưng bày chuyên đề “Tình yêu trong chiến tranh” do Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh phối hợp với Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức khai mạc chiều 11/9. Tham dự buổi lễ có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Thái Văn Thành; cùng đại diện các sở, ban, ngành và đông đảo người dân.

Khi tình yêu riêng hòa vào tình yêu đất nước
Gần 100 tư liệu, hình ảnh quý được giới thiệu tại trưng bày không chỉ tái hiện những câu chuyện tình của một thế hệ đã sống giữa chiến tranh, mà còn cho thấy một điều đặc biệt: trong những năm tháng đất nước gian nguy, tình yêu đôi lứa thường không tách rời lý tưởng và trách nhiệm với Tổ quốc.
Ngay trên quê hương Nghệ An, câu chuyện của chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong là một trong những minh chứng tiêu biểu. Họ là vợ chồng, nhưng trước hết là những người đồng chí cùng chung một lý tưởng. Trước ngày bị xử bắn, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai viết những dòng thư cuối cùng gửi người chồng đang bị giam tại Côn Đảo, khẳng định sự thủy chung với cách mạng, với Đảng.
Trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, tình yêu dành cho người bạn đời vẫn hiện diện, nhưng được đặt trong một tình yêu lớn hơn - tình yêu đối với con đường mà họ đã lựa chọn.
Cũng từ mảnh đất Nghệ An, chuyện tình của nữ chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thị Quang Thái và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu từ một cuộc gặp tình cờ trên chuyến tàu từ Vinh đi Huế năm 1929.
Hơn 100 lá thư bà Quang Thái viết cho người yêu trong những năm 1933-1936 lưu giữ những rung động rất đời thường của một cô gái trẻ: những nhớ thương, chờ đợi và những điều chưa kịp nói. Nhưng chiến tranh và nhiệm vụ cách mạng đã khiến họ nhiều lần xa cách, để rồi cuộc chia tay năm 1939 trở thành vĩnh biệt khi bà Quang Thái hy sinh trong nhà lao Hỏa Lò năm 1944.
Hay câu chuyện của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách và bà Nguyễn Thị Hồng lại bắt đầu từ một mái nhà nhỏ ở Nghệ An. Những lá thư gửi về từ nơi hoạt động cách mạng có khi chỉ là vài câu thơ mượn để nói nỗi nhớ, nhưng ở phía sau những lời thương nhớ ấy còn là sự đồng hành thầm lặng của người vợ nơi quê nhà, khi bà Hồng giúp chồng liên lạc, che giấu tài liệu và bảo vệ những người hoạt động cách mạng.
Tình yêu trong chiến tranh vì thế không chỉ là câu chuyện của hai người. Đó còn là sự sẻ chia trách nhiệm, là niềm tin để người ra đi yên lòng và người ở lại có thêm sức mạnh.
Những lá thư vượt qua bom đạn
Nếu những câu chuyện tình khiến người xem xúc động bởi số phận con người, thì những lá thư và kỷ vật tại trưng bày lại khiến ký ức chiến tranh trở nên gần gũi hơn.
Có chiếc kẹp tóc do liệt sĩ Trần Văn Sáng tự tay làm để tặng người yêu tên Linh. Món quà chưa kịp trao thì ông hy sinh tại chiến trường Campuchia. Chiếc kẹp được tìm thấy cùng hài cốt của ông.
Một món quà nhỏ, nhưng đằng sau đó là cả một lời hẹn chưa thành và sự chờ đợi kéo dài có thể đến hết một đời người.
Có chiếc khăn quàng cổ do nữ cựu tù chính trị Nguyễn Thị Quế đan tặng chồng là cựu tù chính trị Phạm Quang Hồng trong thời gian cả hai bị giam tại nhà tù Chí Hòa. Phần đuôi khăn khi thắt lại tạo thành hình hai trái tim quyện vào nhau.
Có cặp áo gối ông Nguyễn Văn Quang thêu tặng vợ trong những năm tháng bị giam tại nhà tù Bình Thủy - Cần Thơ.
Những kỷ vật ấy không có giá trị bởi vật chất. Nhưng quý bởi đã mang theo tình cảm của con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Đặc biệt, câu chuyện của vợ chồng Thiếu tướng Phan Khắc Hy và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan được lưu giữ qua 542 bức thư tình, từ lá thư đầu tiên ngày 3/4/1952 đến lá thư cuối ngày 7/5/1975, chưa kể những bức thư thất lạc.
Để giữ những lá thư ấy khỏi bom đạn và mối mọt, mẹ ông Phan Khắc Hy đã bọc chúng bằng mo cau, giấu trên gác bếp. Mỗi khi máy bay Mỹ chuẩn bị ném bom, bà lại chạy lên lấy gói thư xuống hầm. Khi yên ổn, những lá thư được đưa trở lại vị trí cũ.
Nhờ sự nâng niu ấy, những dòng chữ của một tình yêu kéo dài qua chiến tranh vẫn còn nguyên vẹn đến hôm nay. Hai người đã phải xa cách 24 năm và chỉ đoàn tụ sau khi chiến tranh kết thúc.
Có lẽ không có cách nào chân thực hơn để cảm nhận chiến tranh bằng việc đọc những lá thư của những người từng sống trong chiến tranh. Bởi trong đó không chỉ có nỗi nhớ mà còn có bom đạn, những trận đánh, nhiệm vụ và những lời động viên để người ở hậu phương vững lòng, người ngoài mặt trận hoàn thành nhiệm vụ.
Có những lời hẹn được thực hiện, có những lời hẹn mãi dang dở
Chiến tranh không phải lúc nào cũng lấy đi tình yêu. Có những câu chuyện, sau nhiều năm chờ đợi, cuối cùng đã có một ngày đoàn tụ.
Năm 1964, Đại tá Nguyễn Đắc Thắng và nữ y tá Huỳnh Biên Thùy gặp nhau giữa những chuyến tàu không số bí mật vượt biển chi viện cho chiến trường miền Nam. Họ hẹn ngày trở lại để làm đám cưới.
Nhưng lời hẹn ấy kéo dài hơn 8 năm. Trong một lần làm nhiệm vụ, con tàu do Đại tá Nguyễn Đắc Thắng chỉ huy bị đối phương phát hiện, tấn công. Để giữ bí mật về tuyến đường và hàng hóa, các chiến sĩ tự phá hủy con tàu, chấp nhận hy sinh. Tin dữ khiến mọi người nghĩ ông đã không còn.
Nhưng bà Huỳnh Biên Thùy vẫn chờ. Suốt hơn tám năm, bà giữ bên mình tấm ảnh người yêu. Cho đến tháng 9/1972, con tàu S950 do đồng chí Nguyễn Đắc Thắng chỉ huy bất ngờ trở lại bến Vàm Lũng. Sau những năm tháng tưởng như tuyệt vọng, họ tìm được nhau. Lễ cưới được tổ chức giữa rừng trong niềm vui chung của đồng đội.

Không phải câu chuyện tình nào cũng may mắn như vậy. Liệt sĩ Nguyễn Trí Phước từng gửi cho vợ là bà Nguyễn Thị Hồng Minh một bức thư dài 16 trang vào năm 1973. Trong thư, ông nhắc đến con gái nhỏ và mong được nghe con gọi mình một tiếng “cha”. Nhưng chiến tranh đã không cho ông cơ hội thực hiện mong muốn giản dị ấy.
Với những người đã nằm lại chiến trường, tình yêu không kết thúc. Nó ở lại trong ký ức của người còn sống, trong những bức thư được giữ gìn, trong những lời hẹn không bao giờ có thể thực hiện.
Và có những người phụ nữ đã dành cả cuộc đời cho sự chờ đợi. Nhật ký của bà Hồ Thị Thắng ở xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu nay là xã Quỳnh Tam, tỉnh Nghệ An chép lại những bức thư của người lính đặc công Nguyễn Văn Thiềng gửi từ chiến trường. Năm 1973, ông Thiềng được trao trả tù binh với sức khỏe bị tổn hại 95%, đôi mắt mù hẳn. Bà Thắng vẫn kiên trì ở bên, nguyện làm đôi mắt cho ông suốt quãng đời còn lại. Tháng 8/1975, họ về chung một nhà. Hạnh phúc của họ giản dị nhưng bền bỉ như chính tình yêu đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất.
Để người trẻ hiểu hơn giá trị của hòa bình
Điều đáng quý của trưng bày không chỉ nằm ở những câu chuyện tình đã được kể lại, mà còn ở cách những ký ức ấy được trao truyền cho thế hệ hôm nay.

Ông Chu Cấp, sinh năm 1940, trú tại xã Yên Thành, Nghệ An, từng bị Mỹ - Ngụy giam cầm tại nhà tù Côn Đảo, đến dự trưng bày đã có dịp nhìn lại những hình ảnh chiến tranh và nhớ về bạn bè, đồng đội đã hy sinh. Với ông, tình yêu trong chiến tranh có một vẻ đẹp đặc biệt: xa cách nhưng vẫn nhớ nhau, có những người dù người yêu đã hy sinh hàng chục năm vẫn giữ lòng thủy chung.
Ông mong thế hệ trẻ hôm nay học tập, tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử để hiểu, biết ơn và không phụ công lao của những người đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do và hòa bình.
Còn với Trần Thị Trang, sinh năm 2008, sinh viên Trường Đại học Vinh, những câu chuyện được nghe tại trưng bày mang đến cảm giác ngưỡng mộ và khâm phục trước sự thủy chung, son sắt của thế hệ đi trước. Những câu chuyện về những người bà, người mẹ vẫn một lòng chờ chồng, chờ người yêu trở về, kể cả khi biết họ có thể đã không còn, khiến người trẻ hôm nay càng cảm nhận rõ hơn giá trị của những gì mình đang có.

Có lẽ đó cũng là ý nghĩa sâu xa nhất của những hiện vật đang được lưu giữ. Một lá thư có thể đã cũ. Một chiếc khăn có thể đã sờn. Một chiếc kẹp tóc hay cây đàn Mănđôlin có thể chỉ là những vật dụng bình thường. Nhưng khi đặt chúng trong dòng chảy lịch sử, mỗi hiện vật lại trở thành một chứng tích về con người - những con người từng yêu, từng nhớ, từng chờ đợi và từng chấp nhận hy sinh điều riêng tư nhất của mình vì một ngày đất nước được hòa bình.
Như lời kết được gửi gắm tại trưng bày: “Khi đã gắn đời mình với Cách mạng thì tình yêu, hạnh phúc của mình cũng nằm trong cái chung ấy. Sống có lý tưởng thì tình yêu mới cao đẹp”.
Từ những câu chuyện tình của những chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai - Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Quang Thái - Võ Nguyên Giáp đến những người lính gửi thư về hậu phương; từ chiếc kẹp tóc chưa kịp trao đến những lá thư được mẹ bọc mo cau giữ qua bom đạn..., tất cả cùng tạo nên một lát cắt đặc biệt của lịch sử.
Và sau cùng, những tình yêu ấy nhắc người hôm nay rằng: hòa bình không phải điều tự nhiên mà có. Phía sau cuộc sống bình yên là tuổi trẻ, là những cuộc chia ly, là những lời hẹn dang dở và cả những tình yêu đã hóa thành ký ức.
Bởi vậy, nhìn lại những tình yêu đi qua chiến tranh cũng là một cách để trân trọng hơn hòa bình đang hiện hữu và để mỗi thế hệ biết mình cần gìn giữ những giá trị mà cha ông đã phải đánh đổi bằng cả cuộc đời.



