Những thần thú trong tâm thức Việt - Kỳ 5: Nghê chầu cõi nhân gian

(PLVN) - Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nghê là linh vật thuần Việt, phản ánh rõ nét nhân sinh quan, mỹ cảm của người Việt, là sáng tạo tuyệt vời của cha ông trong việc tiếp thu và biến đổi các yếu tố văn hóa du nhập trên cơ tầng văn hóa bản địa.
Nghê chầu ở cửa đình Nghê chầu ở cửa đình

Nghê chầu chó trực 

Trong chức năng của các loài linh vật, nếu như rồng là “đệ nhất” gắn với vương quyền thiên tử, phượng gắn với mẫu nghi thiên hạ. Hai linh vật này nếu như có nằm trong đồ án “chầu” cũng chỉ chầu những thiên tượng “lưỡng long chầu nhật/nguyệt” (mặt trời, mặt trăng), “phượng chầu mặt nguyệt” và xuất hiện ở những vị trí cao nhất (như bờ nóc…). Trong khi rùa gắn với chức năng mang vác, “đội” thì riêng nghê có lẽ là con vật nổi trội nhất gắn với chức năng “chầu”.

Vai trò “chầu” của nghê đã được dân gian tổng kết trong câu: “làm phượng thì múa làm nghê thì chầu” hoặc “mỗi người đều có một nghề/con phượng thì múa, con nghê thì chầu” hay ngắn gọn hơn là thành ngữ “phượng múa nghê chầu”, “nghê chầu chó trực”.

Bài ca dao về người thợ mộc Thanh Hoa nói tới con nghê trong các công trình kiến trúc (cửa, nhà, cầu, quán) và đương nhiên nghê ở đó cũng làm nhiệm vụ “chầu”: “Bốn cửa anh chạm bốn nghê/ Bốn con nghê đực chầu về tổ tông”.

Những thần thú trong tâm thức Việt - Kỳ 5: Nghê chầu cõi nhân gian ảnh 1
Nghề của nghê là chầu  

“Nghề” của con nghê là chầu (hay triều). Mà chầu được hiểu là đứng ngay ngắn, nghiêm trang, quay mặt, dõi mắt về hướng đối tượng được chầu thể hiện một sự tôn kính, ngưỡng vọng, thần phục. Để dễ hình dung có thể tưởng tượng nghê như là những vị quan đang “chầu” vua – hoàng đế. Bởi thế nghê thường xuất hiện có đôi, có cặp, có âm, có dương, ở hai bên ngai thờ. Nhưng cũng cần phân biệt “chầu” với “hầu”. Bởi “hầu” thường dành cho đầy tớ, kẻ ở, phục dịch. Nghê chầu chứ không phải nghê hầu. “Nghê chầu, chó trực”.

Thành ngữ “chó trực” được giải nghĩa ở đây là chó có nghĩa vụ canh gác, bảo vệ, trông coi, thường trực tựa như người bảo vệ làm nhiệm vụ “gác cửa” nên đứng quay mặt thẳng ra ngoài. Đối lập với nghê làm nhiệm vụ chầu vào “chủ” nên hướng vào trong. Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu cho rằng: câu từ vậy trong thành ngữ là không ổn. Trong thành ngữ này “chầu” là động từ, “trực” lại là tính từ. 

"Chầu” là từ Nôm, còn “trực” lại là từ Hán Việt. Sự khập khiễng này cho thấy, câu trên đúng hơn phải là: “Nghê chầu, chó chực”. “Chầu chực” ghép lại mới thành một từ hoàn chỉnh. Chầu và chực cùng một loại từ (động từ) trong tiếng Nôm. Ý nghĩa của nó nghĩa là nghê có chức năng là chầu, quay mặt hướng vào nơi được thờ. Còn chó chỉ có chức năng là chực, quay mặt ra phía ngoài đón khách. 

Nghê từ đâu tới?

Trong công trình nghiên cứu khảo sát đồ án trang trí mỹ thuật ở hai đền vua Đinh – Vua Lê (Hoa Lư, Ninh Bình) nhóm biên soạn cho rằng, nghê là tên gọi tắt của Toan Nghê – một trong chín đứa con của rồng (mà không bao giờ lớn thành rồng), thích tĩnh lặng, ưa trầm tư mặc tưởng trong hương khói nên hay được tạc tượng đá, ngồi hai bên cửa đền hoặc đắp vữa trên đỉnh cột trụ biểu trước sân đình, đền.

Theo thư tịch cổ Trung Hoa, nhận dạng của lân và nghê khá tách bạch. Trong khi kỳ lân vốn xuất xứ từ hươu nên thoạt kỳ thủy giống hươu nhưng sau được cách điệu cao, biến dạng thành: đầu rộng, bườm sư tử, đuôi bò, thân phủ vẩy như rồng… nhưng dấu vết của hươu vẫn còn ở thân, chân, sừng mềm vì vốn là lộc nhung, chân có hai (về sau mới thành năm) móng.

Còn nghê có dạng sư tử thu nhỏ: bờm xoắn mà không có sừng, thân phủ lông chứ không vẩy, đuôi chùm xòe ra từng lọn, bàn chân nhiều móng phủ lông. Dấu vết sư tử còn được tìm thấy trong cả hai từ điển của Taberd và Huỳnh Tịnh Của. Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của định nghĩa: Nghê [猊] là “loại thú giống sư tử” nhưng khi lý giải “con nghê” thì lại dẫn “tại sông Đồng Nai có gộp đá lớn giống hình con trâu, người ở đó gọi là con nghê”. Còn Dictionarium Anamitico Latium (Từ điển Annam – La tinh) của J.L.Taberd thì chú giải về “nghê” là “quocddam animal leoni simile” (động vật như con sư tử). Từ điển Thiều Chửu cũng cho rằng “toan nghê” tức là con sư tử.

Những thần thú trong tâm thức Việt - Kỳ 5: Nghê chầu cõi nhân gian ảnh 2
Mặt con nghê có nét giống sư tử  

Tuy nhiên, có lẽ quy cách “chuẩn” giữa lân và nghê chỉ ổn định ở Trung Nguyên, xuống đến Hoa Nam thì lân lại được sư tử hóa. Đến khi sang Việt Nam, lân hay nghê không được phân biệt rạch ròi, đôi khi lẫn lộn. Có khi giống lân mà thân mọc đầy lông, lúc giống nghê mà thân lại phủ vẩy, đôi khi thân trơn nhẵn, đuôi thì chẳng sư tử cũng chẳng bò: bó lông đuôi vắt vẻo, song song thuôn dài…

Theo TS Trần Hậu Yên Thế, cho tới nay, chúng ta chưa tìm thấy một con nghê nào có minh văn để khẳng định một cách chắc chắn có phải là nghê hay là linh vật nào khác. Thậm chí, trong một số trường hợp, minh văn lại khẳng định danh tính linh vật là sư tử. Ví dụ trên linh vật ở chùa Nành có chữ sư tử trên lưng (Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội). Hoặc cặp sư tử ở đền Gióng.

Dòng chữ viết ngay dưới bụng rồng cho biết khi tạc đôi rồng bên ngoài nghi môn người xưa cũng làm đôi sư tử đặt phía bên trong tuy nhiên nếu chỉ quan sát hình dáng bên ngoài thì lại không có đặc điểm gì của sư tử. Tác giả Huỳnh Thiệu Phong trong bài “Mấy vấn đề về nguồn gốc, đặc điểm của biểu tượng “Nghê” trong văn hóa Việt Nam” đã dẫn truyền thuyết “Chín đứa con của rồng” (Long sinh cửu tử). Theo đó, trong số 9 đứa con của rồng được kể tên trong hai tài liệu đã dẫn ở trên, có thể thấy có hai con của rồng là “Toan Nghê” (trong “Tiềm Xác Loại Thư”) và “Kim Nghê” (trong “Tham khảo tạp ký”) có yếu tố “nghê” trong tên gọi.

Tuy nhiên, cách lý giải đặc điểm của hai con này là hoàn toàn khác nhau. Nếu “Toan Nghê” là con “thích nghỉ ngơi (thường bị đồng hóa với sư tử) nên được khắc chạm vào ngai, trường kỷ” thì “Kim Nghê” lại là con “thích nuốt lửa - nhả khói, là con vật để cưỡi”. Do đó, nhà nghiên cứu Huỳnh Thiệu Phong thừa nhận chỉ “tạm xem chữ “nghê” trong cách gọi linh vật này là cách rút gọn từ chữ “nghê” trong tên gọi của một trong những đứa con của rồng.

Tuy nhiên, khi linh vật này được hình thành trong nền văn hóa Việt Nam, người Việt đã biến đổi hoàn toàn về ngoại hình, chức năng và đặc điểm của nó để biến đổi thành một con vật thuần Việt”. Họa sĩ Trần Hậu Yên Thế trong một tài liệu có thể xem là đầy đủ nhất đến thời điểm này về nghê (Phác họa Nghê gã linh vật bên rìa) lại cho rằng nghê ngay từ đầu đã không phải là sản phẩm của Hoa Hạ.

Cao tăng Huệ Lâm đời Đường nói: Toan nghê tức là sư tử, đến từ Tây vực. Cho đến nay, ở Việt Nam, chữ nghê xuất hiện chủ yếu trong các văn bản Phật giáo. Trong văn bia Lý – Trần, số lượng xuất hiện chữ nghê nhiều hơn sư. Kiểu thức sư tử nghê tòa lần đầu tiên được nhắc đến trong Minh Tịnh tự bi văn (1090), nghê đài trên văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc (1107) và sang đến thời Trần được ghi lại trong Thiệu Long tự bi (khoảng năm 1226) chỉ còn là nghê tòa.

Còn TS Đinh Hồng Hải thì lại đưa ra cách giải thích nghê từ chó. Theo đó, biểu tượng con chó trong nghệ thuật dân gian của người Việt vốn giản dị và có phần “thấp kém” hơn về địa vị nếu so sánh với các linh vật khác như kỳ lân, rồng,… Khi văn hóa Khổng – Nho từ Trung Hoa ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam thì con vật canh cửa giản dị đó cần được “nâng cấp” cho tương xứng với những vai trò và vị trí mới. Rất có thể các nghệ nhân dân gian xưa đã thêm vào nhiều đặc tính “mới” để “sang hóa” những linh vật canh cửa của mình…

Khuôn mặt nghê hiện ra lúc thì trầm lắng, trang nghiêm, lúc thì nghênh nghênh, hớ hênh phóng túng, miệng ngoác ra cười đến tận mang tai. Cung cách bông lơn, bộ dạng dung tục đến hồn nhiên vẻ như bất chấp mọi lễ giáo và khuôn phép của những gã nghê được đục đẽo, tô đắp một cách hả hê, làm náo nức các mảng chạm, bất kể đó là ở đình, ở chùa hay lăng tẩm, đền miếu. Hiếm có linh vật nào có thần thái sinh động như nghê, đủ cả hỷ nộ ái ố, lúc chau màu ứa lệ, lúc toe toét miệng cười” – Trích sách "Nghê, gã linh vật bên rìa" do Hậu Yên Thế (chủ biên). 
Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Biết ơn vô thường

Biết ơn vô thường
(PLVN) - Trong cuộc sống này, bởi có vô thường mà nỗi buồn hôm nay có thể ngày mai sẽ chuyển hóa thành bản lĩnh, thành hiểu biết, thành yêu thương. Vô thường là để ta ý thức về cuộc sống hiện tại một cách sâu sắc hơn...

Chuyện của trà (Kỳ 2): Thời cổ đại, Trung Quốc không dùng trà để giải khát

Theo nghiên cứu khoa học, trà có nhiều tác dụng tốt tới trí não.
(PLVN) - Ngày nay, hầu hết mọi người chỉ biết đến trà là một loại thức uống, mục đích dùng để giải khát. Nhưng ngược dòng lịch sử về cách đây 18 thế kỷ, tại Trung Quốc trà ban đầu được sử dụng như một vị thuốc chữa bệnh, vị đắng của trà từng khiến nhiều người ốm phải dùng các loại gia vị khác nhau để có thể uống.

Ngân vang hào khí Bạch Đằng Giang

Cổng vào Khu di tích lịch sử Bạch Đằng Giang tại thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng.
(PLVN) - Khu di tích lịch sử Bạch Đằng Giang là quần thể kiến trúc tâm linh mang giá trị lịch sử, văn hóa gắn liền với những trận thủy chiến bên dòng sông Bạch Đằng lưu truyển sử sách với những chiến công oanh liệt của Đức vương Ngô Quyền, vua Lê Đại Hành, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Ký ức Việt Nam (kỳ 12): Chợ làng

Một phiên chợ làng (ảnh tư liệu).
(PLVN) - Chợ làng là một thiết chế công đặc thù của nền văn hóa kinh tế tập thể vô danh. Cùng với đình, chùa thì chợ là không gian di động và là một trong những không gian công quan trọng nhất của nền văn hóa đám đông làng xã Việt Nam cổ xưa. 

Bụt trong con sinh chưa?

Bụt trong con sinh chưa?
(PLVN) - Tháng Tư là mùa Bụt sinh, mùa sen nở. Trong tâm mỗi chúng ta đều có một đức Phật. Cũng giống như trong một cái đầm hay một cái ao, nếu biết gieo vào và ươm mầm, nhất định ta sẽ trồng được những đóa sen thơm.

Kết nối niềm hạnh phúc

Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm (ảnh minh họa).
(PLVN) - Khoa học đã chứng minh rằng: “Khi một cá nhân hạnh phúc hoặc khi mang đến niềm vui cho người khác, niềm vui sẽ quay trở lại bản thân ta và đến cả nhiều người khác nữa. Nó có thể lan tỏa từ người này sang người khác, kể cả những người không quen biết”.

Nhà thơ Du Phong: Đừng bao giờ để tình yêu cũ kỹ

 Nhà thơ Du Phong (Ảnh internet).
(PLVN) - Viết về thơ tình, hầu như nhà thơ nào cũng có viết. Nhưng để tạo ra được dấu ấn riêng, được nhiều người thuộc, nhắc nhớ thì ít người làm được như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính. Đó là những nhà thơ đã khuấy động một thời trên văn đàn Việt Nam. Hiện nay, tiếp nối dòng chảy thơ tình, có nhà thơ Du Phong.

Truyền thuyết về hộ tướng của cá Ông ở lăng ông Thủy Tướng Cần Giờ

Lăng Ông Thủy Tướng ở Cần Giờ với tuổi đời hơn 200 năm.
(PLVN) - Cư dân vạn chài Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) tin rằng, cá Ông là một loài vật linh thiêng, luôn cứu giúp cho những con thuyền gặp phải sóng to gió lớn, giúp dân chài lưới tai qua, nạn khỏi. Điều đặc biệt ở đây là, họ còn có quan niệm về sự tồn tại của các loài vật được cho là hộ vệ cá Ông.

Nhà đầu tư Nhật Bản tin tưởng Việt Nam vẫn là “bến đỗ” an toàn

Nhà đầu tư Nhật Bản tin tưởng Việt Nam vẫn là “bến đỗ” an toàn
(PLVN) - Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) vừa công bố báo cáo khảo sát từ 4.600 doanh nghiệp (DN) Nhật hoạt động tại gần 20 thị trường châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có 700 DN ở Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy tuy nền kinh tế có một năm bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi bùng phát dịch Covid-19 đợt 4, song tỷ lệ DN Nhật tại Việt Nam muốn mở rộng đầu tư kinh doanh vượt xa đến 10 điểm so với các nước trong khối ASEAN .

Cách chữa bệnh theo "tám kinh, tám vĩ" của người xưa

Thời nào, thầy thuốc cũng rất quan trọng với con người. (Ảnh minh hoạ, nguồn internet).
(PLVN) - Nếu như ngày nay chúng ta coi "lương y như từ mẫu", "thầy thuốc như mẹ hiền" thì trong "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, người thời xưa tôn kính các bậc danh y cũng như vậy. Bởi thời nào cũng thế, các bậc danh y, lương y, thần y hành nghề là để cứu người...

Bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam

Bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam
(PLVN) - Năm 1821, sau khi nhậm chức quan nhỏ ở Quốc Tử Giám (Huế), Phan Huy Chú dâng cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” lên vua Minh Mạng. Vua khen “soạn khéo lắm” rồi ban thưởng 30 lạng bạc, 30 thỏi mực và 30 cái bút.

Thích thú quán cà phê đồ cổ đầu tiên ở Tam Nông

Thích thú quán cà phê đồ cổ đầu tiên ở Tam Nông
(PLVN) - Tôi được một thầy giáo thân thiết nhắn tin qua Zalo giới thiệu quán Cà phê đồ cổ đầu tiên của huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp mang tên Xuân Nhi. Quán đang được nhiều khách hàng thích thú khi đến thưởng thức hương vị ly cà phê thơm lừng, vừa ngọt vừa đắng và ngắm nhìn những món đồ cổ để cùng hoài niệm một thời đã qua.