Những kỷ niệm khó quên
L.T.S: Đường Hồ Chí Minh-con đường huyền thoại, đi vào lịch sử dân tộc; con đường được hình thành và phát triển bởi những thế hệ thanh niên luôn mang trong mình tinh thần yêu nước, không tiếc máu xương trong mưa bom bão đạn của quân thù và sự khắc nghiệt của thiên nhiên để quyết giữ cho được huyết mạch từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đó là những thế hệ của Bộ đội Trường Sơn anh hùng năm xưa. Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh và Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19-5-1959 – 19-5-2009), Báo Đà Nẵng xin giới thiệu đến bạn đọc những ký ức, sự kiện của những người đã từng tham gia Bộ đội Trường Sơn trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước.
L.T.S: Đường Hồ Chí Minh-con đường huyền thoại, đi vào lịch sử dân tộc; con đường được hình thành và phát triển bởi những thế hệ thanh niên luôn mang trong mình tinh thần yêu nước, không tiếc máu xương trong mưa bom bão đạn của quân thù và sự khắc nghiệt của thiên nhiên để quyết giữ cho được huyết mạch từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đó là những thế hệ của Bộ đội Trường Sơn anh hùng năm xưa. Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh và Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19-5-1959 – 19-5-2009), Báo Đà Nẵng xin giới thiệu đến bạn đọc những ký ức, sự kiện của những người đã từng tham gia Bộ đội Trường Sơn trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước.
Bắt đầu từ tháng 5-1959 (tức là từ sau khi có quyết định thành lập Đoàn 559) đến cuối năm 1964, lực lượng làm nhiệm vụ vận tải chi viện cho chiến trường của Đoàn 559 chủ yếu dùng phương thức vận chuyển thô sơ (gùi thồ) bằng sức người, nên việc vận chuyển chỉ bảo đảm được một số vũ khí nhẹ và số hàng hóa đủ giao cho chiến trường vào mùa khô.
Ngoài ra cũng có được một lượng hàng hóa dự trữ để nuôi lực lượng bám trụ trên tuyến đường vào mùa mưa, khi mà giao thông ách tắc không thể vận chuyển được. Nhưng phong trào cách mạng miền Nam ngày càng phát triển, nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho các chiến trường ngày một tăng cao, đòi hỏi tuyến chi viện chiến lược (Đoàn 559) phải phát triển thêm phương thức vận chuyển bằng cơ giới...
Thực hiện chủ trương của trên, mùa khô năm 1964-1965, đơn vị tôi được lệnh dành phần lớn lực lượng để làm đường cho xe cơ giới, còn lại một bộ phận không đáng kể tiếp tục gùi thồ, bảo đảm kế hoạch giao hàng cho chiến trường. Việc bảo đảm hàng dự trữ cho mùa mưa năm 1965, để nuôi lực lượng bám trụ, sẽ được thực hiện sau khi đường xe cơ giới thông tuyến.
Theo kế hoạch “Mũi tên xanh” của ta, khi đường thông sẽ có một đội hình xe ô-tô khoảng 100 chiếc chở hàng vào... Gần cuối mùa khô năm đó, đường xe cơ giới thông, theo kế hoạch đã định, một đội hình xe ô-tô gồm 100 xe Gát 63 (loại ô-tô tải nhẹ) chở hàng chạy thẳng từ miền Bắc vào qua đường 9 và sẽ tới cung đường của đoàn chúng tôi...
Nhưng đoàn xe chưa qua hết đất của tỉnh Quảng Bình đã bị địch phát hiện đánh phá ngăn chặn quyết liệt, xe cháy, lái xe bị thương vong dọc đường... Kế hoạch “Mũi tên xanh” của ta không thực hiện được, phần vì ta chưa có kinh nghiệm chỉ huy đội hình lớn xe cơ giới, phần vì chưa chuẩn bị đầy đủ.
Kế hoạch “Mũi tên xanh” không thành, đồng nghĩa với việc hàng hóa bảo đảm cho lực lượng bám trụ trong mùa mưa ở trên tuyến thuộc cung đường của đơn vị chúng tôi hầu như không có. Đơn vị tôi lúc đó là Binh trạm 3, phụ trách cung đường từ bắc đèo dốc Bạc trở vào đến địa phận tiếp giáp với Binh trạm. Anh Nguyễn An, Tư lệnh phó Đoàn 559 trực tiếp làm Binh trạm trưởng Binh trạm 3.
Tôi lúc bấy giờ là Tiểu đoàn trưởng, kiêm Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn kho của Binh trạm 3, được giao nhiệm vụ phụ trách lực lượng ở lại bám trụ trong mùa mưa, với gần 600 quân làm nhiệm vụ bảo vệ địa bàn kho tàng (chủ yếu là vũ khí) vận chuyển tăng bo hàng qua đèo dốc Bạc. Các lực lượng khác của Binh trạm được lệnh rút ra hậu phương, huấn luyện, học tập, an dưỡng. Mùa mưa năm đó là khoảng thời gian thử thách hết sức khắc nghiệt đối với anh em bám trụ địa bàn chúng tôi. Suốt cả thời gian mùa mưa chúng tôi sống, làm nhiệm vụ trong điều kiện hầu như không có gạo, không muối, không thực phẩm, hàng hóa, kể cả thuốc chữa bệnh cũng không còn.
Hằng ngày việc ăn uống, chữa bệnh hầu như đều dựa vào nguồn rau quả, cây lá, cá suối, thịt rừng do đơn vị đặt bẫy, thả lưới, săn bắt, hái lượm được. Các lực lượng ra, vào trên tuyến thuộc cung đường do Binh trạm 3 phụ trách đều phải tự túc mang theo lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh ở trong ra hoặc từ ngoài vào, vì đơn vị chúng tôi không còn gì để cung cấp cho họ.
Với trách nhiệm là Tiểu đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn, tôi triệu tập họp cán bộ quân chính toàn tiểu đoàn, bàn định, tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn, bảo đảm sức khỏe, bảo đảm tinh thần chiến đấu, công tác cho bộ đội, vượt qua thời kỳ khó khăn hiểm nghèo, cương quyết bám trụ không rời địa bàn được phân công, cương quyết phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao...
Theo anh em phát hiện, gần nơi đơn vị tôi đóng quân có một thung lũng môn ngứa chừng vài hécta. Điều này làm tôi liên tưởng tới hồi còn sống ở quê Thăng Bình (Quảng Nam) tôi đã được mẹ hướng dẫn cách làm môn ngứa để nấu canh ăn sao cho khỏi ngứa (canh môn ngứa - nêu không biết làm mà “xơi” vào thì ngứa đến tụt lưỡi, rách miệng). Sau cuộc họp, tôi dẫn một số cán bộ cùng đi kiểm tra thực tế thấy đúng như anh em đã phát hiện báo cáo.
Tôi bàn bạc thống nhất với số anh em cán bộ cùng đi, phân chia thung lũng môn ngứa thành từng khu vực giao cho từng đại đội quản lý, thu hái sử dụng. Tại thực địa thung lũng môn ngứa, tôi trực tiếp hướng dẫn cho anh em (sau đó về hướng dẫn cho anh em nuôi quân) cách làm môn ngứa nấu thành canh súp đặc cho bộ đội ăn thay cơm, sao cho khỏi ngứa.
Chúng tôi cũng phân chia khu vực cho các đơn vị tổ chức các bộ phận đi săn, đặt bẫy thú rừng, thả lưới bắt cá dưới suối, khai thác ổ mối, kiếm lá rừng làm thuốc chữa bệnh, đốt rễ cỏ tranh lấy tro ăn thay muối, kể cả ăn ớt thật cay thay muối mặn. Bằng một loạt các biện pháp tích cực, chủ động và bằng cả sự quyết tâm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, chúng tôi đã giữ vững được sức khỏe bộ đội, bảo đảm giữ vững được địa bàn cung đường, hệ thống kho tàng, hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong suốt cả mùa mưa năm 1965.
HOÀNG VĂN ĐỘ (Ghi theo lời kể của đồng chí Phan Đức Tầm, Phó trưởng Ban liên lạc Cựu chiến binh Trường Sơn tại thành phố Đà Nẵng)