Những khúc ca hòa bình

Những khúc ca hòa bình
Bản nhạc “Bài ca hy vọng” của nhạc sĩ Văn Ký.

(PLVN) - Khi nước nhà chia cắt Bắc - Nam, khát khao thống nhất, hòa bình của người dân hai miền đã được nhiều nhạc sĩ viết nên những khúc ca hy vọng. Tiếng hát đó băng qua đại dương, dải Trường Sơn để nhắn nhủ bà con trong Nam, ngoài Bắc rằng “nước Việt Nam là một, không thể chia lìa”.

“Giữ lấy đức tin bền vững em ơi”

Hồi sinh viên tôi may mắn được gặp nhạc sĩ Văn Ký ở ngôi nhà nhỏ trên phố Huế, Hà Nội. Qua câu chuyện tâm tình tôi mới biết ông có nhiều thời gian hoạt động ở Quân khu 4.

Nhạc sĩ Văn Ký sinh ngày 1/8/1928 tại Vũ Bản, Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình). Ông xuất thân từ Huyện đội trưởng dân quân những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, đã tham gia hoạt động âm nhạc ở vùng khu 4 cũ với những sáng tác đầu tay như: Trăng xưa, Bình Trị Thiên quật khởi, Tình hậu phương, Chiến thắng hòa bình (giải Nhất Chi hội liên khu 4, nhạc cảnh Dân công lên đường; Lúa thoái tô…) ông chuyển sang công tác văn nghệ ở Đoàn Văn công Quân khu 4 và dự nhiều lớp học do các chuyên gia nước ngoài hướng dẫn rồi đi thực tập ở Liên Xô cũ.

“Bài ca hy vọng” là bài hát đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông. Một khúc ca tràn ngập tin yêu của miền Bắc hướng về miền Nam trong thời kỳ đất nước nhiều biến loạn của lịch sử. Cái tình sắt son, bền chặt, nhớ nhung, gắn bó… vẫn tươi mới như ngày đầu dù quê hương còn nhiều ngăn cách do cuộc chiến “Từng đôi chim bay đi tiếng ca rộn ràng/Cánh chim xao xuyến gió mùa xuân/Gửi lời chim yêu thương tới miền Nam quê hương/nhắn rằng ta ngày đêm mong nhớ…”.

Nhạc sĩ Văn Ký. (Ảnh tư liệu)
Nhạc sĩ Văn Ký. (Ảnh tư liệu)

Nhạc sĩ Văn Ký chia sẻ viết “Bài ca hy vọng” năm 1958 tại ngôi nhà 96 phố Huế - Hà Nội và cũng có một “số phận chìm nổi đặc biệt”. Trong ngôi nhà nhỏ, giai điệu ca khúc này được bật ra một cách tự nhiên, vì ông có niềm tin mãnh liệt vào tương lai rằng nước nhà sẽ thống nhất.

Viết xong ca khúc, ông lại mang cất đi như một “báu vật”. “Vài tháng sau tôi mới đem ra sửa một vài chỗ nhỏ, rồi đem tới Nhà xuất bản Âm nhạc để in. Tuy nhiên, ca khúc bị từ chối với lý do: Bài hát quá lạc quan, lãng mạn, chưa phù hợp với giai đoạn cách mạng hiện tại”, nhạc sĩ Văn Ký tâm sự.

Sau đó, nhạc sĩ Văn Ký mang ca khúc đến Đài Tiếng nói Việt Nam. Giám đốc Đài là ông Trần Lâm đã đồng ý sử dụng “Bài ca hy vọng”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên khi đó là Trưởng Ban Âm nhạc của VOV giao nhạc sĩ Văn Ký dàn dựng.

Ca khúc “Bài ca hy vọng” lần đầu tiên vang lên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam qua giọng hát của ca sĩ Khánh Vân.

Giọng hát Khánh Vân hồi đó đã hát bài này cho Cụ Hồ nghe. Và khi ca sĩ Khánh Vân cất giọng hát tin yêu “sáng chân trời mới đang bừng chiếu”, Cụ Hồ dặn rằng: “cháu phải hát “Bài ca hy vọng” cho đồng bào miền Nam nghe”.

Từ đấy, ca khúc được thu âm và phổ biến rộng rãi, trở thành một khúc ca của hòa bình, khát khao thống nhất, gắn bó non sông một dải.

Nhạc sĩ Văn Ký từng chia sẻ rằng: “Các chiến sĩ yêu thích ca khúc bởi họ luôn tin tưởng vào tương lai, có niềm tin chiến thắng”.

Bản chép tay ca khúc cũng được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, như chứng nhân cho một thời hào hùng của dân tộc.

Giáo sư Tô Ngọc Thanh cho rằng bài hát “Bài ca hy vọng” của nhạc sĩ Văn Ký là một “bài hát vĩ đại”, bởi sức lan tỏa ghê gớm của nó lúc bấy giờ khi hát lên được tâm tư của mọi người là hy vọng vào hòa bình, thống nhất cho đất nước.

Còn theo nhà thơ Thụy Kha, “Bài ca hy vọng” là một tác phẩm lớn của nền âm nhạc Việt Nam, xuất hiện giữa lúc đất nước đang rất cần hi vọng, giúp nâng đỡ, cất cánh cho niềm hy vọng của mọi người. Bài hát thực sự đã giúp ích nhiều cho cuộc tranh đấu thống nhất nước nhà.

Ca khúc tuyệt vời này đã được nhiều nghệ sĩ tên tuổi trình diễn như: Trung Kiên, Lê Dung, Rơ Chăm Phiang… tới thế hệ nghệ sĩ trẻ bây giờ như: Lan Anh, Khánh Linh, Trọng Tấn, Đăng Dương… Sức sống và tinh thần của bài hát còn đó, như một sự tiếp nối, chuyển động của cả dân tộc trong cuộc chiến chống Mỹ cũng như thời bình.

“Cầu Hiền Lương bên nhớ, bên thương”

Có một điều rất đặc biệt về hai ca khúc hướng về miền Nam ruột thịt lúc đầu bị chê rất dữ và “cấm hát”, đó là “Bài ca hy vọng” và “Câu hò bên bờ Hiền Lương”, nhưng khi Bác Hồ nghe Bác lại rất thích và khen ngợi tình người trong ca khúc.

Bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” (nhạc sĩ Hoàng Hiệp và Đằng Giao viết lời) mà nhiều người đi hát karaoke bây giờ vẫn chọn vì nó quá hay: Có cái tình da diết của giai điệu hò miền Trung, sự thao thức, mong mỏi tình trai gái xa cách chỉ là một dòng sông chảy, nhưng lại không gặp được nhau.

Bài hát với lời ca thật nhớ thương, buồn nhưng không bi lụy mà tươi sáng đợi chờ: “Bên ven bờ Hiền Lương/Chiều nay ra đứng trông về/Mắt đượm tình quê/Ôi mắt đượm tình quê/Xa xa đoàn thuyền nan/Buồm căng theo gió xuôi dòng/Bỗng trong sương mờ/Không gian trầm lắng nghe câu hò…”.

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp bộc bạch rằng: Khi bài hát đã bắt đầu lan truyền, có ý kiến của một người có cương vị cho rằng âm điệu yếu đuối, ủy mị, giống với “nhạc vàng”. Vậy nên lập tức bị đình chỉ phát sóng.

Rất may là sau đó, Bác Hồ đã khen bài này chứa chan tình cảm, nói đúng được hiện trạng đất nước bị chia cắt, có nội dung rất “chính trị” là khơi gợi ý chí đấu tranh thống nhất đất nước. Bác cho đây là bản tình ca bất diệt của tinh thần yêu nước, tin tưởng ở ngày mai non sông sẽ thống nhất, bà con hai miền Nam, Bắc sẽ được sum họp một nhà. Thế là từ đó, bài hát được phục hồi và sống mãi đến hôm nay và muôn đời sau.

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp kể lại rằng: ca khúc là câu chuyện cảm động của “tình Bắc, duyên Nam” bị ngăn cách bởi dòng Bến Hải.

Trong cuốn sách “Nhạc và đời” do Lê Giang - Lưu Nhất Vũ chủ biên (NXB Tổng hợp Hậu Giang, 1989) có đăng bài viết của nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã chia sẻ rằng: Năm 1956, nhạc sĩ Hoàng Hiệp vào công tác ở Vĩnh Linh, Quảng Trị. Ông đến sống với những người dân làm nghề chài lưới ở một tập đoàn đánh cá. Chính trong thời gian ấy, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã gặp ông Phan Đình Đồng (sinh năm 1915, ở thôn 9, xã Gio Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị). Ông Đồng ít nói, cũng không hay cười, kể cả khi mọi người ngồi quanh chén rượu, kể cho nhau nghe những câu chuyện vui nhộn.

Ngoài nhiệm vụ ra khơi đánh bắt thủy sản, ông Đồng còn được giao nhiệm vụ gác đèn biển. Một buổi chiều, thấy ông Đồng sửa soạn trèo lên nơi đặt đèn, nhạc sĩ Hoàng Hiệp xin theo lên. Nhạc sĩ Hoàng Hiệp và ông Đồng im lặng nhìn ra biển khơi sóng vỗ.

Bỗng nhiên ông nói: “Đồng chí có biết không? Nhà tôi ở ngay chỗ chòm dương có những cây cao nhất đó. Tôi cũng như đồng chí, tập kết ra Bắc từ hơn hai năm nay. Tôi sang đây để lại vợ con bên ấy. Vì vậy, tôi lên đây không phải để làm nhiệm vụ thôi mà còn để nhìn về quê tôi. Vài lần, tôi đã trông thấy ai như vợ con tôi đang từ trong nhà ra bãi để nhận cá mang ra chợ bán. Tôi muốn kêu to lên, nhưng kêu sao cho tới…”.

Ông Đồng bộc bạch với nhạc sĩ rằng khi nhìn thấy làng xóm khói bếp bốc lên, nghe tiếng súng nổ, ruột gan ông rối bời, nóng ran.

“Tôi đã tìm đủ mọi cách để biết được nhà cửa, vợ con tôi bây giờ ra sao. Nhưng không có cách gì hết. Tôi muốn lén đi về bên ấy một lần. Chỉ một lần thôi rồi ra sao thì ra…”, ông Đồng hỏi nhạc sĩ Hoàng Hiệp rằng: Bao giờ được về bên đó? và rất muốn cầm súng, chứ không muốn sống trong hoàn cảnh này.

Câu chuyện cảm động, day dứt đó là nguồn cảm hứng cho bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” ra đời trong thời gian chia cắt đó.

“Hò ơi ớ dù cho/Dù cho bến cách sông ngăn/Dễ gì chặn được duyên anh với nàng/Xé mây cho sáng trăng vàng/Khai sông nối bến/Cho nàng về anh”, cái tình của ông Đồng với người vợ hiền đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp viết lên rất thật, rất cháy bỏng.

Rất nhiều khúc ca mong mỏi hòa bình trong thời chiến được viết từ những hoàn cảnh đặc biệt. Nó đã vượt qua nhiều rào cản nhận thức để trở thành tác phẩm bất hủ của âm nhạc Việt Nam về tình người và tình nước.

Tuấn Ngọc