Những hiện vật biết nói và nỗi niềm các nhân chứng

Hơn 30 hiện vật gốc khối , hơn 40 hiện vật gốc hình được in phóng lại  cùng  một số  tài liệu văn bản liên quan đến Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến  dịch Điện Biên Phủ vừa được  Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam bổ sung vào hệ thống trưng bày. Hơn 10 nhân chứng là những cựu chiến binh trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ có mặt trong buổi ra mắt hiện vật.

Mỗi hiện vật là một  câu chuyện xúc động

 

Đã có hơn 500 hiện vật liên quan đến Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng  với Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, số hiện vật mới  có được từ  Cuộc vận động sưu tầm các kỷ vật kháng chiến thật đáng quý không kém những hiện vật đang lưu giữ. Đó là tấm Huân chương Quân công hạng hai của liệt sĩ Bế Văn Đàn- người lấy thân mình làm giá súng  trong trận Mường Pồn tháng 12-1953. Là khẩu tiểu liên tuyn  của Phan Đình Giót, Đại đoàn 312, dùng chiến đấu và hy sinh  trong trận tấn công cứ điểm Him Lam  ngày 13-3-1954; là kéo cắt dây thép  gai của đồng chí Vũ Đình Công, tổ quân báo Trung đoàn 88, Đại đoàn 308, dùng cắt hàng rào trong trận tấn công tiêu diệt đồi Độc Lập. 

 

Vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 1 đến 7-5), những hiện vật gắn với những trận đánh oanh liệt của bộ đội ta trên Đồi C1, A1, trung tâm Mường Thanh, có Huân chương Chiến sĩ hạng ba Nhà nước tặng chiến sĩ Lưu Viết Thoảng ( Anh hùng) về chiến công đào đường hầm đồi A1; máy điện thoại  của Trung đoàn trưởng Hùng Sinh, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 dùng chỉ huy chiến đấu trên  đồi A1; ống nhòm  Đại đội trưởng Đại đội 19, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 giao cho đồng chí Đỗ Văn Hữu dùng phát hiện địch từ xa cho pháo bắn  trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ…

 

Và chuyện của những nhân chứng

           

Ông Thành Xuân Thi là một trong số những người  tham gia xây dựng  Chỉ huy sở chiến dịch Điện Biên Phủ ở Mường Phăng. Ông kể lại: “ So với hầm của Tướng Đờ- Cát, Chỉ huy sở của ta cao hơn về mặt kỹ thuật.  Ngày đó, chúng tôi  không hề được học về kỹ thuật làm đường hầm dã chiến, chống dột, chống sập ra sao; thoát nước thế nào… Tất cả được “áp dụng” theo ý kiến đóng góp của các chiến sĩ.  Sau này, đối chiếu với kỹ thuật “sách vở” thấy kinh nghiệm thực tế cũng không khác mấy, thậm chí còn hiệu quả với địa hình  thực tế. Chúng tôi bảo đảm bí mật tuyệt đối khi xây dựng Chỉ huy  sở, không dám làm chết cây cỏ. Bởi, địch có trinh sát điện tử, nếu phát hiện  cây cỏ bị chết, cũng có nghĩa Chỉ huy sở của ta sẽ bị lộ và bị tấn công.   Phải nói là thần kỳ! Chúng ta đã dám đưa Chỉ huy sở áp sát địch và người chỉ huy cao nhất của mặt trận lúc đó-  Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn lên đài quan sát của Chỉ  huy sở  quan sát trận địa địch mà  đối phương không hề biết. Chỉ riêng việc địch không biết Chỉ huy sở của ta ngay sát cạnh chúng đã là một thắng lợi , xét ở góc độ  nghệ thuật nguỵ trang”.

 

Cũng như nhiều cựu chiến binh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ,  Đại tá Nguyễn Sỹ Động nhiều lần trở lại chiến trường Điện Biên. Tuổi cao nhưng ký ức về những trận đánh 55 năm trước trong ông  dường như vẫn còn “xanh”. Ngổn ngang trăn trở, ông nói: “ Chiến dịch Điện Biên Phủ đã qua hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn còn một vài trận đánh quan trọng cần làm rõ giá trị lịch sử của nó. Ngã tư đầm Hà, còn gọi là Ngã tư sân bay, đó là trận đánh thực hiện kế hoạch chia cắt sân bay Mường Thanh của Bộ  Chỉ huy chiến dịch, cắt đứt việc tăng viện và tiếp tế của địch, siết chặt vòng vây, áp sát khu trung tâm (Sở chỉ huy Đờ- Cát) tạo điều kiện để tổng công kích”.

 

Cùng tâm trạng với  Đại tá  Nguyễn Sỹ Động, ông Đặng Đức Song nói về vai trò quan trọng của cứ điểm Hồng Cúm  ở mặt trận Điện Biên Phủ. Để rồi trăn trở: “ Những gì được phục dựng chưa thực sự xứng tầm. Chúng tôi nhiều lần trở lại trận địa năm xưa, chỉ tìm  thấy những hầm sụt nhưng không có điều kiện khai quật xem ở dưới còn sót lại những gì. Nhân chứng của Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày càng ít đi. Nếu không tranh thủ các nhân chứng để tiếp tục tìm kiếm, xác định các vị trí một cách khoa học, cẩn thận… e rằng sau này muốn làm cũng khó”.

 

Trước những  băn khoăn của các cựu chiến binh Điện Biên, Thiếu tướng Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cho biết  Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch cũng như Lãnh đạo tỉnh Điện Biên đã biết tất cả những điều mà các nhân chứng phản ánh và đang tích cực  vào cuộc để những gì thể hiện trong   Quần thể di tích lịch sử Điện Biên  xứng với tầm vóc, quy mô của chiến dịch Điện Biên phủ năm xưa. Thiếu tướng Lê Mã Lương cũng cho biết, đã tìm thấy căn cứ hậu  cần  nằm ở núi Lũng Pá Cha, bên suối Ta Huyện, xã Mường Phăng, cách  Chỉ huy sở  hơn 1 km. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nơi đây là căn cứ của Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), chỉ huy mạng lưới cung cấp  lương thực, đạn dược, nhu yếu phẩm… cho hơn 80.000 người tham gia chiến  dịch Điện Biên.  Vì thế nó có vai trò quan trọng không kém Sở Chỉ huy chiến dịch . Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cùng các ban, ngành chức năng thuộc quân đội  đang  triển khai các công việc cần thiết để  lập hồ sơ đề nghị  Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch công nhận  căn cứ này  là di tích cấp quốc gia.

                                                                       

Chu Thu Hằng