Những định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội năm 2009
Tại kỳ họp, các đại biểu đã nghe Chủ tịch UBND thành phố Trần Văn Minh trình bày báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2008 và định hướng nhiệm vụ năm 2009. Báo Đà Nẵng trích đăng những định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng được đề ra.
Tại kỳ họp, các đại biểu đã nghe Chủ tịch UBND thành phố Trần Văn Minh trình bày báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2008 và định hướng nhiệm vụ năm 2009. Báo Đà Nẵng trích đăng những định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng được đề ra.
![]() |
|
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 14,5 - 15% so với ước thực hiện 2008. Tập trung chỉ đạo để tiếp tục thực hiện, nâng cao chất lượng cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng khu vực ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; trong đó kinh tế ngoài quốc doanh tăng 21,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,9%...
Tiếp tục triển khai và hỗ trợ phát triển các sản phẩm chủ lực, tạo thêm một số sản phẩm chủ lực mới và nâng cao chất lượng các sản phẩm công nghiệp. Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ: phụ tùng cơ khí, điện, bao bì…; tiếp tục lựa chọn và chuyển giao công nghệ tiên tiến ứng dụng vào sản xuất sản phẩm công nghiệp: công nghệ thông tin, tự động và công nghệ sinh học.
Gắn phát triển công nghiệp có chọn lọc với việc ưu tiên phát triển các nghề và làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Xây dựng và phát triển công nghệ thông tin để trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh (chú trọng thu hút nhân tài, sản xuất phần mềm, công nghệ mạng…) và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.
Tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc, bảo đảm tính ổn định cho đầu tư và sản xuất, kinh doanh. Rà soát và lựa chọn các doanh nghiệp có năng lực cao trong sản xuất, thị trường, sản phẩm nhằm tập trung chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, khuyến khích những doanh nghiệp đã đầu tư mới và mở rộng trong năm 2008 sớm đi vào sản xuất ngay từ đầu năm.
Định hướng, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp hợp lý hóa sản xuất, tăng cường các biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng phục vụ cho sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất và chi phí trung gian để hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh.
Ưu tiên đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất. Hỗ trợ xúc tiến thị trường, tìm đầu ra cho những sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao: điện-điện tử, chế biến sâu của ngành thủy sản. Tổ chức tiếp xúc doanh nghiệp, nhà đầu tư để nắm bắt, hỗ trợ giải quyết kịp thời các khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh.
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ ngành thủy sản-nông-lâm, phấn đấu giá trị sản xuất năm 2009 đạt 640 tỷ đồng, tăng 4,5% so với ước thực hiện 2008, trong đó: thủy sản tăng 6,4%, nông nghiệp tăng 0,2% và lâm nghiệp tăng 3,4%.
Tiếp tục đầu tư phát triển Đà Nẵng trở thành một trung tâm nghề cá mạnh của khu vực, có kết cấu hạ tầng kinh tế biển vững mạnh. Tập trung xây dựng 2 vùng nuôi cá nước ngọt tại Hòa Khương (125ha) và Hòa Phong (95ha). Phấn đấu sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản đạt 44.250 tấn, trong đó khai thác hải sản 43.000 tấn, nuôi trồng thủy sản 1.250 tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản: 710ha.
Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn. Phát triển chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn thực phẩm. Nâng cao năng lực đánh bắt xa bờ, hạn chế khai thác thủy sản ven bờ. Tập trung đầu tư hệ thống thông tin, liên lạc, các dịch vụ hậu cần trên biển, có kế hoạch phòng chống thiên tai, rủi ro…
Tăng cường công tác quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng trong nuôi trồng thủy sản, áp dụng khoa học công nghệ với việc phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường, mở rộng các vùng nuôi. Triển khai thực hiện tốt kế hoạch sản xuất lúa thời vụ, chú trọng công tác thủy lợi, giống và phòng trừ sâu bệnh. Tiếp tục tổ chức sản xuất các vùng chuyên canh rau, hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ rau an toàn.
Hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề, khuyến khích các hộ gia đình, tư nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đáp ứng nhu cầu tại chỗ và tham gia xuất khẩu.
Phát triển vùng chăn nuôi, trồng trọt tập trung theo hình thức trang trại gắn với cơ sở chế biến tập trung. Từng bước xã hội hóa và đưa khu giết mổ gia súc, gia cầm Hòa Quý, Ngũ Hành Sơn vào hoạt động. Tập trung chỉ đạo phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch cúm gia cầm H5N1, dịch lở mồm long móng trên gia súc.
Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, chăm sóc, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên; đẩy nhanh công tác trồng rừng, trọng tâm là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn.
Thúc đẩy phát triển nhanh các ngành dịch vụ thành phố có lợi thế đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh, từng bước nâng cao tỷ trọng trong cơ cấu GDP, tăng cường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu các ngành dịch vụ theo hướng phát triển mạnh lĩnh vực tài chính-ngân hàng, bưu chính-viễn thông, dịch vụ phần mềm, du lịch để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tập trung vào các thị trường có sức mua lớn, mở rộng thị trường mới. Dự kiến tốc độ tăng giá trị sản xuất dịch vụ đạt 13,5 – 14% so với ước thực hiện 2008.
Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ bán lẻ đạt 21.520 tỷ đồng, tăng 21% so với ước thực hiện 2008. Định hướng và hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn nâng cao năng lực phát triển cả về quy mô và chất lượng dịch vụ, chủ động giữ vững và chiếm lĩnh thị trường.
Tiếp tục tổ chức tốt mạng lưới các chợ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển hệ thống các cửa hàng tự chọn, trung tâm thương mại, siêu thị văn minh, hiện đại, các trung tâm dịch vụ phức hợp quy mô lớn, bảo đảm đầu ra cho các sản phẩm và đưa hàng hóa đến với người tiêu dùng.
Tăng cường các biện pháp quản lý, theo dõi diễn biến thị trường và biến động giá; chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát thị trường chống hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, thực hiện niêm yết giá và bán theo giá niêm yết. Xử phạt nghiêm khắc những trường hợp đầu cơ, gian lận thương mại…
Chủ động liên kết các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, khu vực miền Trung, đặc biệt là tỉnh Quảng Nam để thực hiện quy hoạch ngành liên vùng và xa hơn nữa là các địa phương thuộc các quốc gia Thái Lan, Lào, Myanmar nơi có tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây đi qua.
Phấn đấu doanh thu du lịch năm 2009 đạt khoảng 900 tỷ đồng, tăng 11% so với ước thực hiện 2008; đón 1,53 triệu lượt khách du lịch, tăng 20,6%, trong đó có 550 ngàn lượt khách quốc tế. Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình “Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm du lịch dịch vụ lớn của cả nước”. Thực hiện có hiệu quả chủ trương phát triển du lịch bền vững, gắn việc cải thiện doanh thu, lượt khách du lịch với việc bảo đảm các yếu tố xã hội và môi trường du lịch.
Tích cực triển khai hỗ trợ, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành đưa vào khai thác các dự án du lịch.
Xây dựng chiến lược về sản phẩm, tour, tuyến bảo đảm tính đặc trưng và luôn luôn mới; có chiến lược quảng bá, tiếp thị chuyên nghiệp hơn… Xây dựng thương hiệu du lịch Đà Nẵng để trong những năm tiếp theo trở thành thương hiệu mạnh.
Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông.
Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ vận tải đường biển, đường bộ, đường sắt và hàng không. Nâng cao năng lực vận tải để vận chuyển trong nước và xuất khẩu, nhất là tạm nhập tái xuất, quá cảnh qua tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây vào các nước tiểu vùng Mêkông (GMS).
Tiếp tục phát triển các tuyến xe buýt nội thành. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động vận tải, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng cao. Tập trung và tiếp tục đầu tư, phối hợp với các bộ, ngành trung ương trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án theo định hướng của Nghị quyết 33/NQ-TW của Bộ Chính trị và Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên.
Tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành bưu chính-viễn thông, phát triển và thúc đẩy dịch vụ bưu chính, viễn thông theo hướng hiện đại, có khả năng cung cấp các dịch vụ đa dạng, đạt tiêu chuẩn quốc tế để thực sự là trung tâm bưu chính, viễn thông của miền Trung và cả nước.
Đa dạng hóa và hiện đại hóa dịch vụ tài chính ngân hàng, từng bước đưa Đà Nẵng trở thành Trung tâm tài chính-tiền tệ của khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế dễ tiếp cận các nguồn vốn. Ngân hàng Nhà nước thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các ngân hàng, nhất là các chi nhánh ngân hàng thương mại, bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn. Bám sát chương trình của Ngân hàng Nhà nước trong việc mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho vay đầu tư, sản xuất, xuất khẩu.
Tiếp tục thực hiện các biện pháp để hỗ trợ phát triển Quỹ đầu tư phát triển thành phố.Tạo điều kiện để các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế mở rộng địa bàn hoạt động, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm.
Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 1.090 triệu USD, tăng 20,4%, trong đó: xuất khẩu hàng hóa tăng 17,4%; xuất khẩu dịch vụ tăng 25% và chiếm tỷ trọng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng trong các mặt hàng xuất khẩu. Mở rộng và khai thác hiệu quả thị trường xuất khẩu theo hướng phù hợp các cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu mặt hàng theo hướng gia tăng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng cao, có nhiều giá trị tăng thêm, hàm lượng chế biến, chế tác và hàm lượng công nghệ, tri thức cao và có sức cạnh tranh; giảm tỷ trọng hàng thô, chú trọng xuất khẩu các sản phẩm truyền thống, đẩy mạnh xuất khẩu phần mềm. Năm 2009, phấn đấu xuất khẩu phần mềm đạt 8 triệu USD, tăng 45,4% so với ước thực hiện 2008.
Thực hiện các biện pháp khuyến khích về thị trường và mặt hàng xuất khẩu, nhất là thị trường mới có tiềm năng đối với những sản phẩm được sản xuất, khai thác từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Hỗ trợ lãi suất tín dụng xuất khẩu đối với những hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn, có hiệu quả, có thị trường ổn định.
Tăng cường mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, lựa chọn các đồng ngoại tệ thanh toán đa dạng để tránh rủi ro và tăng kim ngạch xuất khẩu.
Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế để tận dụng cơ hội phát triển. Thực hiện nghiêm túc các cam kết gia nhập, hướng dẫn các doanh nghiệp nhận thức, đánh giá đúng những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và đầy đủ hơn vào kinh tế thế giới và khu vực. Kim ngạch nhập khẩu dự kiến 640 triệu USD, tăng 5,8%, trong đó ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất.
Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đi đôi với tăng cao tỷ trọng vốn thực hiện; tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư; nâng cao hiệu quả của hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển.
Trên cơ sở tốc độ tăng tổng sản phẩm nội địa (GDP) từ 11-12%; GDP hiện hành đạt khoảng 23.250 tỷ đồng, tương đương 1,41 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 1.680 USD, đồng thời với việc triển khai đồng bộ các giải pháp thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, dự báo khả năng huy động vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt khoảng 15.200 tỷ đồng (tương đương 915 triệu USD), tăng 15% so với ước thực hiện 2008.
Tiếp tục đổi mới và cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động và phát triển theo cơ chế thị trường, bảo đảm tính hiệu quả, minh bạch và bình đẳng.
Tăng cường vận động, thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (FII) hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi Chính phủ (NGO)… nhằm tạo nguồn vốn đầu tư phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Xúc tiến kêu gọi vốn FDI để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng với những hình thức thích hợp như: BOT, BT, BO… Phấn đấu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với mức tăng 20% về số dự án và vốn đăng ký so với ước thực hiện năm 2008. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA và cân đối đủ vốn đối ứng cho các dự án đúng tiến độ. Dự kiến trong năm 2009 sẽ cân đối khoảng 42,8 tỷ đồng vốn đối ứng từ nguồn XDCB của ngân sách. Tăng cường vận động, thu hút nguồn vốn viện trợ phi Chính phủ (NGO) với mức phấn đấu đạt 100-110 tỷ đồng.
Tập trung và chuyên môn hóa công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch cả thị trường trong và ngoài nước; hướng vào các tập đoàn kinh tế mạnh, có tiềm năng để thu hút những dự án công nghiệp lớn nhằm tạo ra những sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng và xuất khẩu cao.
* Tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý đầu tư-xây dựng cơ bản, công tác quy hoạch, quản lý đô thị, các chương trình mục tiêu, gắn phát triển kinh tế-xã hội với bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững.
Tập trung ưu tiên bố trí vốn cho các công trình thanh toán khối lượng, các công trình trọng điểm: Trung tâm Hành chính thành phố, Cầu Rồng (gần Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng), đường Đà Nẵng-Hội An (đoạn Lê Văn Hiến-Trần Đại Nghĩa), đường Bạch Đằng giai đoạn 2, đường Nguyễn Văn Linh nối dài, các bệnh viện tuyến huyện, các trường lớp học trong đề án kiên cố hóa, Trường THPT Trần Phú, Trường THCS Nguyễn Khuyến, đầu tư nâng cấp cải tạo trụ sở UBND xã, phường mới chia tách, các khu tái định cư phục vụ di dời giải tỏa...
Tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm và các công trình phục vụ tái định cư.
Tăng cường công tác giám sát thi công của các tổ chức tư vấn, tăng cường vai trò giám sát chất lượng của các sở chuyên ngành, giám sát của cộng đồng để kiểm tra chất lượng công trình. Cần có các biện pháp chế tài đối với các chủ đầu tư, các Ban Quản lý và các đơn vị thi công không hoàn thành công trình đúng tiến độ, chất lượng kém.
Tiếp tục rà soát các đồ án quy hoạch chậm triển khai, cắt giảm một số đồ án không khả thi. Nâng cao năng lực trong công tác lập các đồ án quy hoạch, quy hoạch.
Hoàn thành điều chỉnh quy hoạch không gian thành phố đến năm 2025. Tăng cường quản lý Nhà nước về quy hoạch, đô thị. Tiếp tục rà soát, ban hành quy chế quản lý kiến trúc đô thị tại các khu trung tâm và các trục đường chính. Thường xuyên kiểm tra sau cấp phép xây dựng và xác nhận quy hoạch nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp xây dựng trái phép.
Triển khai việc giao kế hoạch vốn các chương trình mục tiêu đồng thời với kế hoạch KT-XH, tập trung thực hiện và giám sát các chương trình ngay từ đầu năm nhằm đẩy nhanh việc giải ngân vốn, triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ứng trước Trung ương và các chương trình, dự án phục vụ sản xuất và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc và các vùng khó khăn khác. Phấn đấu giải ngân vốn các chương trình đạt 100% kế hoạch là 47,545 tỷ đồng.
Hoàn chỉnh và triển khai đề án Xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố môi trường. Quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và hoạt động phòng chống, giảm nhẹ thiên tai.
Bảo đảm chất lượng môi trường nước, đất, không khí. Năm 2009, tỷ lệ cung cấp nước sạch khu vực thành thị đạt 82%, nông thôn đạt 73,39%, tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt 91%. Xây dựng hệ thống xử lý chất thải cho các trung tâm y tế. Xã hội hóa công tác thu gom, xử lý chất thải rắn và trồng, chăm sóc, bảo vệ cây xanh đô thị. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào ngày chủ nhật xanh-sạch-đẹp, ban hành tiêu chuẩn xã, phường, hộ gia đình xanh-sạch-đẹp, gia đình sinh thái.
Quản lý cân đối hiệu quả thu-chi ngân sách.
Năm 2009 là năm thứ ba trong thời kỳ ổn định ngân sách 2007-2010, thành phố xây dựng dự toán ngân sách địa phương trên cơ sở nguồn thu, nhiệm vụ chi đã được phân cấp, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối. Tổng thu ngân sách trên địa bàn dự kiến là 7.269,27 tỷ đồng, trong đó: thu thuế xuất nhập khẩu: 2.400 tỷ đồng, thu nội địa: 4.561 tỷ đồng, thu để lại chi qua ngân sách Nhà nước: 308,27 tỷ đồng.
Phát triển mạnh mẽ các hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tăng cường quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm, an toàn bức xạ và hạt nhân...
Nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống; đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác nghiên cứu, triển khai ứng dụng. Xây dựng tiêu chí, cơ chế đánh giá hiệu quả các hoạt động khoa học và công nghệ cũng như kết quả các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng hỗ trợ phát triển thị trường, khuyến khích, tôn vinh các nhà khoa học có đề tài nghiên cứu có chất lượng.
Tiếp tục đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ quản lý để tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đóng góp thiết thực đối với khu vực sản xuất và dịch vụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng, bảo đảm thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Tiếp tục phát triển mạng lưới trường lớp, triển khai xây dựng hệ thống các trường đạt chuẩn quốc gia. Năm 2009, phấn đấu 100% trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu theo Quyết định số 48/2003/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó 80% trường đạt chuẩn quốc gia và 30% trường mầm non, 40% trường THCS, 30% trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Củng cố và phát huy kết quả xóa mù chữ, duy trì kết quả phổ cấp giáo dục tiểu học và THCS đúng độ tuổi tại 100% xã, phường; đưa số xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục THPT lên 51/56 xã, phường.
Nâng cao chất lượng dạy nghề; đặc biệt là nguồn lao động có tay nghề cao đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 45%, trong đó lao động qua đào tạo nghề lên 35%.
Giải quyết việc làm, thực hiện chính sách thương binh-liệt sĩ, phát triển hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo... lồng ghép thực hiện với các chương trình thành phố “5 không”, “3 có”; tăng cường bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thực hiện tốt công tác dân số-gia đình-trẻ em; phát triển các lĩnh vực văn hóa, thể thao, phong trào thanh niên và bình đẳng giới...
Tiếp tục thực hiện đề án “có việc làm”, tổ chức các phiên chợ việc làm định kỳ, mở rộng sàn giao dịch lao động-việc làm, nhất là giao dịch trực tuyến, phát huy vai trò của các trung tâm giới thiệu việc làm. Phấn đấu tổng số lao động có việc làm trong năm 2009 đạt 397,65 ngàn lao động, trong đó 35 ngàn lao động có việc làm mới. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống dưới 4,9% lao động trong độ tuổi. Tăng cường hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho các lao động trong lĩnh vực thủy sản-nông-lâm, nhất là lao động mất việc làm do quá trình đô thị hóa.
Duy trì 100% xã, phường thực hiện tốt công tác thương binh-liệt sĩ, người có công. Thực hiện đề án hỗ trợ lâu dài cho các đối tượng chính sách mắc bệnh hiểm nghèo. Xây dựng 20 nhà tình nghĩa, sửa chữa nâng cấp 600 nhà cho đối tượng chính sách. Vận động thu quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đạt 4,6 tỷ đồng.
Thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân, các hộ nghèo, cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số theo Quyết định số 289/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; trợ cấp kịp thời cho các đối tượng khó khăn đột xuất; mua BHYT cho người nghèo và BHYT tự nguyện cho những người thuộc diện cận nghèo; cung cấp dụng cụ chỉnh hình, xe lăn và trợ giúp y tế cho người tàn tật. Chăm sóc 2.000/7.500 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, 100% trẻ em không nơi nương tựa, 96% trẻ mồ côi, 98% trẻ khuyết tật và giảm 70% số trẻ em lang thang kiếm sống.
Hỗ trợ dạy nghề, miễn học phí và các khoản đóng góp cho học sinh nghèo. Hỗ trợ cho 20.000 lượt hộ nghèo vay vốn sản xuất, doanh số cho vay là 200 tỷ đồng... góp phần duy trì mục tiêu “không có hộ đói” và phấn đấu năm 2009, giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thành phố xuống còn 0,85%, chuẩn quốc gia còn 0,25%.
Bảo đảm các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực hiện tốt các chính sách xã hội trong khám chữa bệnh BHYT, khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi. Duy trì tỷ lệ 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu y tế.
Phấn đấu duy trì mức giảm sinh đạt 0,35 phần nghìn, đạt tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,13%.
Thực hiện xã hội hóa việc đầu tư các thiết chế văn hóa xã, phường, phấn đấu 20/56 xã, phường có nhà văn hóa, thư viện. Rà soát, có biện pháp xử lý các vướng mắc và có cơ chế nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu vui chơi xã, phường. Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, nhất là cho đồng bào các dân tộc ít người.
Đẩy mạnh tuyên truyền, xây dựng mục tiêu “có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị”. Phấn đấu năm 2009, 88% hộ đạt gia đình văn hóa và 60% thôn, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa và tăng cường chất lượng các danh hiệu văn hóa.
Đẩy mạnh các hoạt động thể thao cả về quy mô và chất lượng, thu hút 22,4% dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên. Tiếp tục thực hiện Đề án xã hội hóa các hoạt động thể thao.
Nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng chính quyền đô thị; thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, thi hành án dân sự; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Triển khai thí điểm Đề án không tổ chức Hội đồng Nhân dân cấp quận, huyện, phường và nhân dân trực tiếp bầu Chủ tịch xã; xây dựng chính quyền đô thị. Xây dựng nền hành chính đáp ứng mục tiêu phục vụ nhân dân, trong sạch, dân chủ, hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, trong đó chú trọng giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị.
Tiếp tục triển khai đồng bộ chương trình cải cách thủ tục hành chính, đồng thời tiếp tục đổi mới, hoàn thiện những nội dung của công cuộc cải cách, phù hợp yêu cầu đổi mới nền kinh tế, đặc biệt là các dịch vụ hành chính liên quan đến tổ chức, công dân như: đầu tư, thành lập và hoạt động của doanh nghiệp theo cơ chế “một cửa liên thông”. Đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước; phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính rõ ràng, cụ thể tại công sở. Tăng cường đối thoại trực tiếp giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp.
Hiện đại hóa nền hành chính thành phố phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà nước trong bối cảnh hội nhập; thực hiện tốt chương trình Chính phủ điện tử gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính, phù hợp với tiến trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Nhà nước.
Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, thi hành án dân sự; đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục thực hiện các nội dung chương trình hành động của Thành ủy, UBND thành phố trong việc thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thực hiện tốt chủ trương chuyển đổi và luân chuyển cán bộ và vị trí công tác của cán bộ, công chức.
Tăng cường quốc phòng-an ninh, giữ vững ổn định chính trị, chống tội phạm, bảo đảm trật tự xã hội, an toàn giao thông.
Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững độc lập dân tộc và trật tự an toàn xã hội. Tạo môi trường chính trị ổn định cho phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Tiếp tục bảo đảm các nhu cầu của các lực lượng vũ trang về các mặt đời sống, về vũ khí trang bị, tăng cường công tác bảo đảm kỹ thuật.
Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng-an ninh với phát triển kinh tế-xã hội. Tổ chức thực hiện tốt chương trình phòng chống tội phạm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng xã, phường trong sạch, giảm các tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
Triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy ngày 3-6-2008. Tiếp tục củng cố kiện toàn ban chỉ đạo các cấp, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn mại dâm, ma túy. Thực hiện Chương trình quốc gia về phòng chống ma túy, thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành, đưa phần lớn người nghiện vào cai nghiện bắt buộc và tự nguyện.
Duy trì củng cố kiện toàn tổ chức các câu lạc bộ sau cai, đẩy mạnh hoạt động của các Đội hoạt động xã hội tình nguyện xã, phường. Các ngành, đoàn thể và gia đình phối hợp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện, người bán dâm, sau chữa bệnh về hòa nhập cộng đồng. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ phương tiện phục vụ quản lý tại Trung tâm Giáo dưỡng, Dạy nghề 05-06.
Thực hiện các đợt tuần tra cao điểm, xử lý nghiêm các vụ vi phạm Luật giao thông. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục kiến thức về hiểu biết pháp luật an toàn giao thông đối với người dân.
|
(N.T)
