Những điều cần biết về đông trùng hạ thảo
Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc quý của đông y có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk) Sacc. Thuộc họ nhục tòa khuẩn (Hypocreacea).
Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc quý của đông y có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk) Sacc. Thuộc họ nhục tòa khuẩn (Hypocreacea). Vị thuốc này thực chất là hiện tượng ấu trùng của các loài bướm thuộc chi Thitarodes bị nấm thuộc chi Cordyceps ký sinh, hay nói cách khác đó là một dạng cộng sinh giữa một loài nấm Cordyceps với sâu non (sấu trùng) của bướm chi Thitarodes. Nấm hút chất bổ từ con sâu non nằm dưới đất trong mùa đông làm sâu chết và đến mùa hè nấm phát triển khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu con sâu nên gọi là đông trùng hạ thảo. Ngoài ra còn 46 loài khác thuộc chi Thitarodes cũng có thể bị Cordyceps sinensis ký sinh.
Thành phần hóa học:
Các phân tích hóa học cho thấy trong sinh khối của đông trùng hạ thảo có 17 acid amin khác nhau, có D-mannitol, có lypid, có các nguyên tố vi lượng như Al, Si, K, Na… quan trọng hơn là trong sinh khối đông trùng hạ thảo có nhiều hoạt chất hoạt động sinh học, nhiều hoạt chất có giá trị dược liệu cao. Trong đó phải kể đến Acid Cordyceptic, Cordycepin, Adnoxin, Hydroxyethyl-Adnosin. Đáng chú ý hơn cả là nhóm hoạt chất HEAA (Hydroxy-Etyl-Adnosin-Analogs). Đông trùng hạ thảo còn chứa nhiều loại Vitamin (trong 100g đông trùng hạ thảo có 0,12g Vitamin B12, 29,19mg Vitamin A, 116,03mg Vitamin C, ngoài ra còn có Vitamin B2, Vitamin E, Vitamin K.
Tác dụng sinh học:
Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu vị thuốc trên thực nghiệm thấy rằng vị thuốc có tác dụng sinh học rất quý như: Làm tăng rõ rệt lượng máu tim của thỏ, với tim ếch cô lập và tại chỗ đều làm tim đập chậm lại nhưng sức bóp không tăng; làm giảm cơ trơn khí quản động vật thí nghiệm, hạ huyết áp trên chó đã gây mê, khi tiêm tĩnh mạch với liều 0,1-0,5ml hoặc 1ml/kg thể trọng đều thể hiện hạ huyết áp sau 10 phút huyết áp trở lại bình thường, có tác dụng an thần và gây ngủ; ức chế ruột và tử cung cô lập; ức chế trực khuẩn lao, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn; ức chế một số nấm ngoài da; có tác dụng chống lão hóa; ức chế tế bào ung thư, với liều lượng 15-200mg/kg thể trọng chuột nhắt đã gây ung thư phúc mạc được uống liền 7 ngày chế phẩm của đông trùng hạ thảo thấy rằng thời gian sống của chuột kéo dài hơn so với nhóm đối chứng.
Những ứng dụng lâm sàng của đông trùng hạ thảo:
Theo y học cổ truyền đông trùng hạ thảo có vị ngọt, tính bình vào hai kinh phế, thận. Có tác dụng bổ phế, ích thận chỉ huyết trừ đờm dùng chữa ho, suyen, thổ huyết, ra nhiều mồ hôi, liệt dương, di tinh, lưng gối đau mỏi. Liều dùng từ 3-9g.
Một số bài thuốc thường dùng:
- Thận kém bị liệt dương di tinh hoạt tinh:
+ Dùng bột uống 3-6g trước khi đi ngủ, uống liền 2-3 tuần;
+ Hoặc dùng phối hợp đông trùng hạ thảo 6g bột hòa với nước sắc của các vị dâm dương hoắc 8g, ba kích, hà thủ ô mỗi vị 12g, ngày dùng 1 thang chia làm 2-3 lần uống.
- Ho hen mãn tính, ho ra máu do phế hư: Dùng đông trùng hạ thảo với sa sâm, a giao, xuyên bối mẫu.
- Đau lưng mỏi gối: Đông trùng hạ thảo phối hợp với đỗ trọng, cẩu tích, tục đoạn.
Hiện nay đông trùng hạ thảo đã được nhiều công ty dược sản xuất thành viên bán ngoài thị trường.
Ở vùng núi phía Bắc nước ta như Lạng Sơn, Sơn La, Điện Biên có loại sâu chít sống trong cây chít, cây đót, cây le là ấu trùng của loài Buwowms Brihaspaastrostigmella, sâu dài 35mm vào mùa đông cắn đục thân cây làm cây ngừng sinh trưởng.
Đến mùa lá chồi cây mọc thành cây thảo (giống hiện tượng của vị thuốc đông trùng hạ thảo). Nhân dân dùng sâu chít thay thế đông trùng hạ thảo để làm thuốc bổ thận, tráng dương, ích khí, đau lưng do thận hư, liệt dương, mỏi gối. Dùng sâu chít ngâm rượu uống hoặc dùng sau xào nấu với trứng hầm thịt ăn hàng ngày. Liều dùng từ 6-12g. Viện Y học Cổ truyền Quân đội, Đại học Y Hà Nội cũng đã có công trình nghiên cứu về loại sâu chít này là có tác dụng với sức khỏe con người, đặc biệt có khả năng phục hồi thương tổn hệ miễn dịch sau chiếu xạ, có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh nhân ung thư..
DS Nguyễn Thọ Biên