Nhớ Hải Phòng

Tôi về nhận công tác ở Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh quân chủng Hải quân đầu năm 1979. Khi ấy, một số tỉnh, thành phố ở miền Bắc nền kinh tế còn đang khủng hoảng trầm trọng thì Hải Phòng dường như đã biết cách tiếp cận với kinh tế thị trường, dù chưa ai dám tuyên bố đi theo hướng đó.

Hồi ấy, cả cái thị trấn, huyện lỵ quê tôi chỉ vài ba người có xe máy Honda, Suduki, Yamaha, mang từ Sài Gòn ra sau ngày giải phóng. Nhưng khi tôi ra Hải Phòng thì xe Honda đời mới: nào CD “Hoàng tử đen”, DD “Nữ hoàng đỏ”, Honda thể thao hai ống xả, Cúp “Tôm”...đã chạy rợp đường. Cả một dãy phố từ nhà hát thành phố đến chợ Sắt san sát cửa hiệu xe máy, cát-xét, máy khâu, đồng hồ. Toàn hàng “xịn” của Nhật Bản. Những cái cát-xét mang kiểu cách rất lạ mắt, âm thanh miễn chê, khiến tôi mỗi lần đi dạo qua đó cứ dùng dằng không muốn về. Máy khâu Misubitsi, Fuji, Senkô, vô tuyến màn hình màu, đồng hồ Citizen, Sen-kô...sáng choang trong các cửa hàng.

Nhớ Hải Phòng

Nhộn nhịp sông Cấm

Suốt thời bao cấp, khi nói đến hàng ngoại thì thường chỉ có hàng Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN. Hàng của tư bản mãi sau giải phóng, dân miền Bắc vào các đô thị miền Nam mới được mục sở thị; song biết sử dụng một cách rộng rãi thì phải đến những năm Hải Phòng có những con tàu mang nhãn hiệu “Vốt-cô”  “đông du” sang Nhật Bản như đi chợ. Hải Phòng có lợi thế là thành phố hải cảng. Nhưng cũng phải nói người Hải Phòng tính tình phóng khoáng, sòng phẳng, mạnh mẽ, rất nhạy bén với cái mới nên Hải Phòng sớm trở thành một thị trường năng động nhất khu vực phía Bắc ngày ấy.

Từ khi về Hải Phòng, tôi và nhà thơ Trần Đăng Khoa trở thành những “hướng dẫn viên du lịch tiếp thị” cho nhiều bạn bè đồng nghiệp từ Hà Nội hoặc từ các tỉnh khác đến. Có lần tôi và Trần Đăng Khoa dẫn Bế Kiến Quốc và Trần Đăng Suyền đi chơi, xem hàng hóa thâu đêm. Có lần nhà thơ Ngọc Bái nhờ tôi mua hộ một bộ ti vi- video màn hình màu 21 in cho phòng Tuyên huấn Quân khu 2.

Sống ở Hải Phòng những năm ấy, cái không khí thương mại, thương trường thấm vào con người tôi tự khi nào chẳng hay. Sau này khi chuyển ngành về Nam Định, tôi là một trong số ít người đầu tiên mở cửa hiệu kinh doanh sách vở, văn hóa phẩm ở thị trấn huyện. Tuy chưa phải dạng giàu có, sành điệu nhưng rõ ràng cuộc sống của tôi và gia đình có những thay đổi đáng kể nhờ những thành quả từ công việc kinh doanh. Nhiều người có vẻ khó hiểu về tôi: Quái lạ cái ông này, suốt ngày chỉ thấy cặm cụi đọc đọc, viết viết; vậy thì ông ta học kinh doanh từ khi nào? Tôi trả lời họ, người thầy dạy tôi kinh doanh có cái tên là thành phố Hải Phòng ! Thành phố Hoa Phượng Đỏ!

Điều thứ hai khiến tôi không quên được Hải Phòng, ấy là những cuốn sách. Hồi tôi mới về Cục Chính trị, nghe người ta nói trong cơ quan Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân có một thư viện, tôi cứ tưởng nó cũng giống như nhiều thư viện của sư đoàn, trung đoàn mà tôi từng biết: hầu hết sách ở đây là loại sách phục vụ công tác Đảng, công tác chính trị; nếu có sách văn học cũng chủ yếu nói về chiến tranh và cách mạng, về người chiến sĩ. Nhưng khi bước chân vào thư viện cơ quan Bộ tư lệnh, tôi bị choáng ngợp bởi quá nhiều sách, hàng vạn cuốn, lại toàn sách hay. Hầu như mọi tinh hoa văn chương của nhân loại hội tụ về đây. Từ Sếch-xpia, Xéc-van-téc đến Gô-gôn, Lép Tôn-xtôi, Tuốc-ghê-nhi-ép, Vích-to Huy-gô; từ Ka-wa-ba-ta, Lỗ Tấn đến Hê-minh-wây, Giắc Lăn-đơn...Lạ hơn nữa, có cả những cuốn sách mà ngày ấy miền Bắc chưa được phép xuất bản như “Lũ người quỷ ám” của Đốt-xtôi-ép-ki, Bác sĩ Zi-va-gô của Pa-téc-nắc, “Một thời để yêu và một thời để chết” của Rơ-mác...thì ở trong thư viện này đã có, do các hãng tư nhân ở Sài Gòn xuất bản trước năm 1975. Mấy chị nhân viên thư viện vào chơi phố sách cũ ở Sài Gòn, thấy người ta giới thiệu hấp dẫn, trông lại “bắt mắt”, liền mua về. Các chị không bày loại sách đó công khai ra giá, nhưng với tôi, khi ấy được gọi là “nhà văn trẻ”, các chị cứ ngấm ngầm cho mượn. Có lần tôi đang đọc cuốn “Bác sĩ Zi-va-gô” thì ông trung tá Ngô Thế Lãng, thủ trưởng trực tiếp của tôi nhìn thấy. Tôi sợ hãi, bụng bảo dạ: “Thôi, phen này mình “xơi” kỷ luật là cái chắc!”. Ông Lãng cầm cuốn sách giở mấy trang xem qua rồi bảo:

-Cuốn sách này là của một nhà văn lớn được giải Nô-ben. Nhưng ở ta chưa được xuất bản. Cậu làm nghề viết văn có thể đọc, nhưng không nên tuyên truyền cho nhiều người biết !

Người Hải Phòng là thế: cởi mở, thoáng đãng!

Tôi đã được “ăn theo” cái sự thoáng đãng ấy. Và cái thư viện khổng lồ của Bộ tư lệnh Hải quân là nguồn “nhiên liệu” quý cung cấp cho tôi vốn văn học và bản lĩnh sáng tạo để tự tin bước vào làng văn.

Năm 1979, tôi về Hải quân khi mà hành trang văn học của tôi mới là mấy cái truyện ngắn in báo, tạp chí hàng tỉnh. Nhưng chỉ sống ở Hải Phòng một năm sau, báo Văn nghệ của Hội Nhà văn số Tết 1980 và tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 2 năm đó đều in truyện ngắn của tôi. Tạp chí Cửa Biển của Hải Phòng thì coi tôi là một cộng tác viên “ruột”.

Nhớ mùa hè Hải Phòng là nhớ cái màu đỏ thắm, đỏ ngai của hoa phượng hai bên bờ sông Lấp. Còn nhớ Tết Hải Phòng là nhớ cái không khí làm ăn nhộn nhịp, hàng hóa choáng ngợp, hòa lẫn với vẻ tươi tắn trên gương mặt người. Bên cạnh một Hải Phòng sôi động theo nhịp sống hiện đại, nếu đi sâu vào các phố cổ lại thấy một Hải Phòng trầm tư, lắng sâu trong mùi hương trầm linh thiêng và mùi hương hoa thủy tiên tinh khiết, như thấm vào từng sợi tóc của người đi đón Tết.

Lê Hoài Nam

(Tỉnh Nam Định)