Nhờ Đại tướng, nên mối lương duyên…
Gặp lại nữ chiến sĩ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ân cần hỏi: “Đồng chí Cầm 27 tuổi rồi đấy, đã lấy chồng chưa?”. Bà Cầm bẽn lẽn thưa không quen ai... Vài hôm sau, một tiệc cưới nho nhỏ được tổ chức tại trụ sở tổng bộ Việt Minh.
Là người có mặt trong Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ)- tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam - từ khi mới thành lập, tuy không là người trực tiếp cầm súng nhưng bà được gọi là “chị nuôi” của toàn đội. Tết này, bà bước sang tuổi 91 nhưng vẫn còn minh mẫn, nhớ như in những kỉ niệm cách đây hơn 66 năm trước…
Ngày thiêng liêng nhất trong đời
Chúng tôi tìm đến một căn nhà nhỏ đường Phủ Liễn, phường Hoàng Văn Thụ, TP. Thái Nguyên, gặp người “chị nuôi” năm nào của Đội VNTTGPQ Lê Thị Cầm (sinh năm 1920 tại thôn Nà Đán, xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) còn có bí danh Minh Cầm. Có mặt từ rất sớm trong thành phần của Đội VNTTGPQ, bà đảm nhiệm phục vụ hậu cần cho các chiến sĩ.
Bồi hồi nhớ lại ngày 22/12/1944, bà tâm sự: “Tôi là một trong số ít những chiến sĩ nữ tham gia đội. Được phân công làm nhiệm vụ nấu ăn, lần đầu tiên được nấu bếp Hoàng Cầm đã để lại trong tôi ấn tượng rất sâu sắc. Từ sự hướng dẫn của các anh chị trong tổ, ban đầu còn bỡ ngỡ nhưng dần cũng quen. Hằng ngày tôi nấu cơm lam, cơm ống cho anh em để đảm bảo sức khỏe đánh giặc cứu nước. Hôm thành lập đội, Pháp tung nhiều lính khố xanh, lính khố đỏ đi lùng sục rất dữ. Tại khu rừng già Trần Hưng Đạo (thuộc huyện Nguyên Bình), Đội được thành lập trong lúc tình hình rất căng thẳng và khẩn trương. Toàn thân tôi run lên khi toàn đội hô vang lời thề của người chiến sĩ giải phóng quân Việt Nam. “Dù phải đầu rơi, máu chảy nhưng quyết không nản lòng”. Cả đội đã giơ tay hô vang quyết tâm đuổi giặc, giải phóng Tổ quốc”.
Cùng theo đoàn quân đi đánh trận đầu tiên, bà được phục vụ tiểu đội 1 đánh đồn Phay Khắt. Bà kể: “Đồn Phay Khắt phần nhiều là lính khố xanh do một tên đội Tây trực tiếp chỉ huy. Tên này khét tiếng khắp vùng đó nên chủ trương ban đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho phải bắt sống. Trận này ta toàn thắng nhưng nhiệm vụ cuối cùng không như kỳ vọng vì tên chỉ huy trong lúc giao chiến, trinh sát không nắm được thông tin đầy đủ về nhận dạng nên đã bị bắn chết. Tuy vậy, chiến thắng đã làm nức lòng quân đồng thời, thu được nhiều súng ống võ trang thêm sức mạnh hỏa lực”.
Bà còn hồ hởi kể cho chúng tôi bằng chất giọng hào sảng của người cán bộ tuyên truyền bao nhiêu năm bám cơ sở: “Các đồn địch Phay Khắt và Nà Ngần trước giờ ta nổ súng thì dân chúng xung quanh đã lặng lẽ di tản một cách bí mật. Họ tin tưởng Việt Minh lắm, không chỉ ủng hộ về vật chất mà đồng bào còn giúp đỡ thông tin, cung cấp đường đi lối lại để ta dễ dàng nắm bắt trận địa địch. Trận này ta thắng khẳng định sức mạnh của Đội VNTTGPQ nhưng thực sự đã làm cơ sở thêm tin yêu vào đường lối cách mạng”.
Năm 1947, theo chỉ thị từ cấp trên, người “chị nuôi” năm nào Minh Cầm đổi tên là Lê Thị Thái (sau này còn có bí danh Mai Anh) xung phong lên đường công tác sâu vào vùng Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang) để làm dân vận, gây dựng cơ sở cách mạng: “Ở địa bàn này cũng như nhiều nơi khác có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, một điều tiên quyết đối với cán bộ của ta là phải biết tiếng địa phương, dùng chính ngôn ngữ của đồng bào để tuyên truyền cách mạng. Do biết tiếng Nùng và am hiểu phong tục của đồng bào Nùng ở Hoàng Su Phì, dần dần tôi đã thuyết phục được đông đảo bà con bỏ phỉ, bỏ chế độ cũ về với cách mạng, với Việt Minh. Quả thực, lúc ấy với bản thân mình, hoàn thành được nhiệm vụ cấp trên giao không có gì hạnh phúc và thiêng liêng hơn”.
Đại tướng se duyên
Nhắc đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người phụ nữ kiên trung một lòng theo Đảng và theo cách mạng ứa nước mắt vì xúc động. Giác ngộ cách mạng từ khi còn rất trẻ và hoạt động trong lòng địch nên thực dân Pháp đã mấy lần âm mưu bắt bà bằng được.
Khi vào Thanh niên cứu quốc, bà có dịp gặp Bác Hồ, đồng chí Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Vào đội Thanh niên nhưng tôi không biết chữ, hồi nhỏ có được đi học đâu nên thấy thiệt thòi quá. Một hôm, Đại tướng đưa cho tôi một tờ “Cứu quốc” của tỉnh Cao Bằng bảo tôi có nhiều thông tin lắm, phải học đọc, tập viết mới có thể trở thành cán bộ tin cậy của tổ chức, của Đội được. Lời nói ấy đã là động lực lớn cho tôi cố gắng. Sau khi cách mạng thành công, tôi được cử đi học bổ túc công nông và viết được cơ bản các báo cáo”.
Nhưng có lẽ ấn tượng nhất, sâu sắc nhất với bà chính là mối lương duyên với Đại tá Phương Cương, được đích thân Đại tướng se duyên.
Năm 1947, hoạt động ở Hoàng Su Phì một thời gian, một hôm đến nói chuyện, gặp lại người chiến sĩ nữ năm xưa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi ân cần: “Đồng chí Cầm 27 tuổi rồi đấy, đã lấy chồng chưa?”.
Bà Cầm bẽn lẽn thưa: “Dạ thưa Đại tướng, em có quen ai ở đây đâu mà lấy?”. Đại tướng cười: “Thế này nhé đồng chí Cầm, tôi có một đồng chí hơn 30 rồi cũng chưa có vợ. Đồng chí có bằng lòng không để tôi sắp xếp?”. Bà Cầm thưa lại: “Báo cáo Đại tướng, em là người của tổ chức, Đảng và tổ chức đặt đâu, em xin “ngồi” đấy”. Vài hôm sau, một tiệc cưới nho nhỏ nhưng là tiệc cưới đầu tiên của đời sống mới được tổ chức tại trụ sở tổng bộ Việt Minh Hà Giang giữa bà Cầm và đồng chí Phương Cương. Tuy chỉ có nước chè và bánh kẹo nhưng đó là kỉ niệm đã đi theo bà suốt hơn 60 năm qua: “Hồi đó giản dị lắm, cuộc sống nơi đó còn nhiều khó khăn và nhiệm vụ vẫn phải đặt lên hàng đầu”.
Chồng bà, Đại tá Phương Cương - nguyên Chánh án Tòa án quân sự Tây Bắc - là một người con ưu tú của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Trưởng thành từ một chàng trai đầy nhiệt huyết tham gia cách mạng, ông tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn rồi ở Đội Cứu quân 2. Sau đám cưới 3 ngày, ông được giao nhiệm vụ cùng nhiều đơn vị khác đánh địch trên Sông Lô (chiến dịch Việt Bắc, thu đông 1947) và lập nhiều chiến công xuất sắc.
Hai ông bà có 2 người con trai, 2 người con gái nhưng vì công việc, thành thử thời gian bên nhau không nhiều. Nói về chồng mình, bà Cầm cho biết: “Ông ấy đã mất năm 1994. Tuy thời gian bên nhau của chúng tôi không nhiều nhưng thực sự đó là mối lương duyên bền chặt và hạnh phúc. Chúng tôi chia sẻ với nhau về nhiệm vụ mà Đảng đã tin tưởng giao cho, chia sẻ với nhau những lúc gian nguy nhất của cuộc đời mình và luôn mỉm cười, động viên nhau, động viên con cháu biết sống và cống hiến”.
Do tuổi cao sức yếu nên đôi tai bà đã không còn nghe rõ như trước. Hàng ngày, bác Phương Mai (con gái đầu) chăm sóc cho bà, mỗi khi rảnh rỗi và nghe bà kể chuyện, bác đều ghi lại làm tư liệu của gia đình, dòng họ. Bác Mai cho biết: “Bà rất hay kể về mối lương duyên do Đại tướng giúp đỡ. Mỗi lần kể về câu chuyện cách đây đã hơn 60 năm, bà vẫn thường rất say sưa”.
Vừa qua, bà Cầm đã vinh dự được nhận huân chương cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh, ghi nhận công lao to lớn của bà đối với nhân dân và Tổ quốc. Quả thật, cách mạng Việt Nam đã lớn mạnh nhanh chóng nhờ những đóng góp bình dị nhưng cao quý của những người như bà Lê Thị Cầm; tấm gương của bà cũng như bao anh hùng, liệt sĩ khác đã và vẫn là niềm tự hào của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau…
Ngọc Trìu

