Nhiều vấn đề dân sinh xã hội được đặt lên bàn nghị sự

(HP)- Ngày 29- 10, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên. Ý kiến thảo luận của các đại biểu tập trung làm rõ những mặt được, một số hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội năm 2007; việc xây dựng kế hoạch năm 2008.

Hầu hết đại biểu đều nhất trí với những nhận định quan trọng  của Chính phủ, song bày tỏ băn khoăn về những vấn đề dân sinh xã hội, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là vấn đề tai nạn giao thông, việc làm, đời sống của công nhân lao động. Đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) phân tích thực trạng đáng lo ngại về việc làm, đời sống của công nhân  lao động và đề xuất một số kiến nghị được nhiều đại biểu quan tâm, đồng tình.

Đại biểu Nguyễn Hữu Đồng (Nam Định) đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân tình trạng gia tăng tai nạn giao thông và quan tâm hơn đối với giao thông nông thôn. Về những giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông, đại biểu Nguyễn Tấn Tuân (Khánh Hòa) cho rằng, cần tăng cường giáo dục các lực lượng tham gia quản lý về an toàn giao thông, kiểm tra giao thông và kiểm định các phương tiện tham gia giao thông. Đại biểu Trần Tiến Cảnh (Hà Nam) lo lắng trước tình trạng ở nhiều nơi, nhất là các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông. Hiện có tình trạng một số xe ô tô của các cơ quan Nhà nước đã được thanh lý, thuộc sở hữu của tư nhân, doanh nghiệp nhưng vẫn sử dụng biển số cũ tham gia giao thông. Các cơ quan có trách nhiệm cần thực hiện ngay các biện pháp kiên quyết thu hồi và đổi biển số xe để bảo đảm kỷ cương pháp luật.

Giải đáp thắc mắc của các đại biểu Quốc hội về nguyên nhân và tình trạng TNGT, ùn tắc giao thông xảy ra phổ biến tại ở một số đô thị lớn, thành phố lớn, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia Hồ Nghĩa Dũng cho biết: Vấn đề ùn tắc giao thông đã xảy ra trong nhiều năm, nhưng đặc biệt bùng phát từ tháng 9 vừa rồi. Ở Hà Nội thường xuyên có khoảng 71 điểm có nguy cơ xảy ra ùn tắc giao thông. Ở thành phố Hồ Chí Minh có hơn 30 điểm ùn tắc giao thông nghiêm trọng kéo dài trong nhiều giờ. 4 nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là kết cấu hạ tầng giao thông của đô thị nhỏ, manh mún, không đáp ứng nhu cầu tăng quá nhanh về phương tiện tham gia giao thông và dân số ở các khu đô thị; ý thức của người dân, của người tham gia giao thông chậm chuyển biến; công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, trong đó có quản lý nhà nước về  quy hoạch. Quy hoạch giao thông thiếu gắn kết với các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, phát triển đô thị.

Về những giải pháp kiềm chế, tiến tới đẩy lùi tai nạn giao thông, Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng cho biết: Chính phủ đề ra các cụm giải pháp như : giảm mật độ người và phương tiện tham gia giao thông vào giờ cao điểm bằng cách bố trí lệch giờ làm việc, giờ học của các cơ quan và một số trường; tiếp tục mở các đợt tuyên truyền tập trung với sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan đoàn thể, trường học ...; thực hiện phân làn riêng cho xe 4 bánh và 2 bánh; tổ chức giao thông cho người đi bộ; chấn chỉnh trật tự đô thị và lập lại trật tự hè đường; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình  giao thông ở nội đô cũng như các đường kết nối ; xử phạt nghiêm và thực hiện xử phạt qua phương tiện ghi hình và huy động các lực lượng công an xã, công an phường tham gia trật tự an toàn giao thông; nghiên cứu cơ chế đóng góp của chủ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vào việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và phát triển giao thông công cộng, qua đó có thể giảm phương tiện cá nhân.

 Thực trạng đáng lo ngại về việc làm, đời sống của công nhân  lao động

Trong phiên họp thảo luận tại hội trường sáng 29-10, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng Trần Ngọc Vinh phát biểu ý kiến làm rõ hơn kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2007, kế hoạch năm 2008 và đề nghị một số vấn đề cụ thể được dư luận quan tâm. Đó là:

... Trong lĩnh vực việc làm, đời sống của một bộ phận công nhân lao động đang nổi lên một số vấn đề rất đáng quan tâm. Theo điều tra, chỉ có 83% công nhân có việc làm ổn định, 12% thường xuyên không ổn định và 2,7% thường xuyên thiếu việc làm.

Ở nhiều doanh nghiệp gia công cho nước ngoài, công nhân phải làm tăng ca, tăng giờ cho kịp tiến độ giao hàng. Một số doanh nghiệp áp dụng cơ chế lương theo sản phẩm với định mức quá cao, dẫn đến cường độ lao động căng thẳng, thời gian làm việc của công nhân phải kéo dài thêm từ 1- 2 giờ mới có thể hoàn thành định mức. Theo điều tra, 24,7% công nhân phải làm việc cả 7 ngày/tuần. Trong khi Bộ Luật Lao động quy định không được làm quá 200 giờ/năm và trong một số trường hợp đặc biệt  không quá 300giờ/năm. Nhưng thực tế số công nhân làm thêm bình quân tới 500-600 giờ/năm không phải là cá biệt.

Nhiều doanh nghiệp xây dựng thang bảng lương quá nhiều bậc trong một nghề và khoảng cách giữa các bậc lương quá thấp. Có doanh nghiệp xây dựng 30-40 bậc lương với mỗi nghề, mà mỗi bậc chỉ cách nhau 15.000-20.000đồng.  Theo tính toán của chúng tôi, nếu người công nhân cứ mỗi năm được lên một bậc thì phải mất 40 năm mới đạt mức lương 600.000đồng (40 năm x 15.000 đ).  Như vậy, người lao động rất thiệt thòi khi về hưu.

Tiền lương, thu nhập của công nhân, nhất là công nhân trực tiếp sản xuất còn thấp. Theo điều tra, 17,8% công nhân thu nhập bình quân dưới 800.000 đồng/tháng; chỉ có 23,8% có thu nhập hơn 1.500.000 đồng/tháng. Đáng chú ý vẫn còn 13,3% công nhân có mức thu nhập bình quân dưới 300.000 đồng/ tháng. Nếu so với thời gian, cường độ làm việc và sự gia tăng khá nhanh giá cả hàng hoá, dịch vụ thì thu nhập của công nhân như vậy thấp. Đời sống của một bộ phân công nhân đang gặp nhiều khó khăn.

Công nhân cũng thiệt thòi nhiều về đời sống tinh thần. Các công trình công cộng, cơ sở phục vụ vui chơi, giải trí cho nhân dân nói chung và công nhân nói riêng hầu hết đã chuyển sang kinh doanh. Do thu nhập thấp, nhiều công nhân không thể đến các cơ sở này. Một bộ phận công nhân do thời gian và cường độ lao động cao nên không có điều kiện vui chơi, giải trí hoặc tham gia các hoạt động văn hoá tinh thần khác. Theo điều tra, ngoài giờ làm việc, chỉ 41,6% công nhân thỉnh thoảng có xem truyền hình, 40,3% thỉnh thoảng đọc báo; 29,6% thỉnh thoảng nghe chương trình phát thanh. Đáng lo ngại hơn, do áp lực về kinh tế, một bộ phận công nhân bị kích động, lôi kéo theo chiều hướng không lành mạnh.

Nỗi lo nhà ở trở thành vấn đề bức xúc hàng đầu của công nhân, nhất là người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và ở các tỉnh, thành phố công nghiệp tập trung. Hiện tại các khu chế xuất, khu công nghiệp chỉ có khoảng 2-7% công nhân được thuê nhà ở do nhà nước hoặc doanh nghiệp xây dựng, còn lại hầu hết phải thuê nhà trọ của tư nhân với điều kiện thấp kém, chật hẹp, không đảm bảo an toàn, vệ sinh, diện tích mỗi phòng chỉ từ 7-10m2 cho 3- 4 người…Tình trạng này ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của công nhân. Điều kiện làm việc của công nhân còn nhiều bất cập. Tình trạng công nhân phải lao động thủ công, nặng nhọc, làm việc với các máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu trong môi trường độc hại, nóng, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần và không đảm bảo an toàn vẫn diễn ra rất phổ biến ở các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiện môi trường làm việc của 40% doanh nghiệp ở mức kém và trung bình, khoảng 24 % doanh nghiệp có môi trường vệ sinh lao động ở mức bình thường và chỉ có 36% doanh nghiệp có điều kiện làm việc khá và tốt. Khoảng 22% công nhân không được trang bị hoặc được trang bị nhưng không đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động cá nhân. Số công nhân mắc bệnh nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao và đang có xu hướng gia tăng. Tình trạng tai nạn lao động nặng, tai nạn lao động chết người xảy ra trong thời gian qua khá nghiêm trọng và cũng đang có xu hướng tăng nhanh.

Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý những hành vi vi phạm chưa được quan tâm đúng mức. Từ năm 2005 đến cuối năm 2006, cả nước xảy ra 1.265 cuộc đình công. Tình hình đình công, lãn công, ngừng việc tập thể trong những năm gần đây đang có xu hướng gia tăng cả về quy mô, thời gian, địa bàn. Tất cả các cuộc đình công xảy ra vừa qua đều có xu hướng tự phát, chưa tuân thủ  trình tự pháp luật quy định và đều không do công đoàn cơ sở lãnh đạo và tổ chức. Đình công có tính chất lan truyền từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Đã có những cuộc đình công bị các phần tử xấu lợi dụng, kích động gây ảnh hưởng không tốt tới quan hệ lao động và trật tự xã hội trên địa bàn. Một trong những nguyên nhân là chưa thực sự quan tâm đến những quyền, lợi ích của công nhân lao động, nhất là quyền, lợi ích về vật chất và tinh thần. Hệ thống chính sách, pháp luật đối với công nhân lao động trong các thành phần kinh tế chưa đồng bộ, vai trò làm chủ của công nhân cũng chưa được coi trọng. Vai trò điều tiết và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước, nhất là các chính sách đối với giai cấp công nhân chưa được thực hiện nghiêm. Nhiều cơ chế chính sách đối với công nhân lao động đề ra mục tiêu, yêu cầu thì rất tốt, đầy đủ nhưng trong tổ chức thực hiện có sự sai lệch. Trong khi đó chưa có chế tài xử lý nghiêm những vi phạm. Một số chính sách về phúc lợi xã hội đối với công nhân lao động chưa hợp lý. Một số vướng mắc trong chính sách tiền lương, phúc lợi xã hội và các chính sách xã hội khác được phát hiện, kiến nghị nhưng chưa được sửa đổi kịp thời. Nhiều thể chế bảo đảm quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện của công nhân thông qua tổ chức công đoàn cơ sở chưa được quan tâm. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn  nghiệp vụ, công tác giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống cách mạng, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho công nhân, nhất là công nhân ở khu vực dân doanh, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được chú trọng. Chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề chưa  đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá- hiện đại hoá, chưa sát nhu cầu. Tình trạng quan liêu, thiếu trách nhiệm của cán bộ ở một số cơ quan quản lý các cấp vẫn nghiêm trọng. Công tác kiểm tra giám sát, thực hiện các chủ trương, chính sách đối với công nhân lao động chưa được quan tâm thường xuyên, đúng mức.

Vì vậy, cần sớm xây dựng và ban hành luật bảo hộ lao động, có cơ chế chính sách và tăng đầu tư cho công tác đào tạo nghề . Tập trung rà soát các cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến công nhân lao động, từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách, nhất là chính sách bảo đảm việc làm, nhà ở, tiền lương, BHXH, bảo hộ lao động và các chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân; cơ chế phát huy dân chủ đối với nhân dân lao động. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát thực hiện cơ chế chính sách và có chế tài xử lý nghiêm những vi phạm.

Thuỳ Dung lược ghi