Nhiều chuyển biến trong tận dụng ưu đãi xuất xứ

Nhiều chuyển biến trong tận dụng ưu đãi xuất xứ
Đồ họa tổng quan về tình hình tận dụng ưu đãi của Việt Nam

Mức độ tận dụng ưu đãi thuế quan thông qua Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) là thước đo quan trọng phản ánh hiệu quả khai thác các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Dữ liệu thống kê giai đoạn từ những năm đầu triển khai các FTA cho đến giai đoạn 3 năm gần đây (2023 – 2025) đã phác họa rõ nét xu hướng chuyển dịch và mức độ thích ứng của nền kinh tế.

Thách thức ban đầu và sự khác biệt giữa các thị trường

Trong những năm đầu tiên thực hiện các cam kết FTA, tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi của doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận sự phân hóa rõ rệt tùy thuộc vào quy mô và cấu trúc thị trường. Cụ thể, các FTA thế hệ đầu và khu vực truyền thống có các mức tận dụng khá trái ngược nhau. Ví dụ, ATIGA (ASEAN - Mẫu D): năm 2008 chỉ đạt tỷ lệ tận dụng 12,8%;  ACFTA (ASEAN - Trung Quốc - Mẫu E) còn đạt thấp hơn ở năm đầu tiên thực hiện (Năm 2008) bắt đầu ở mức 9,8%.  Nhưng cũng có những hiệp định tận dụng rất tốt ngay từ năm đầu tiên như AJCEP/VJEPA (Nhật Bản) năm 2009 đạt 27,8%; Đáng chú ý, AKFTA/VKFTA (Hàn Quốc) đạt rất cao.  Đây là nhóm thị trường có tỷ lệ tận dụng bứt phá rất cao ngay từ năm 2009 với 79,05% và đạt đỉnh 90,8% vào năm 2011.

Tuy nhiên, các FTA thế hệ mới và tiêu chuẩn cao gần đây lại có tỷ lệ tận dụng đạt rất thấp. Ví dụ, CPTPP (Mẫu CPTPP) trong năm đầu triển khai (2019), tỷ lệ tận dụng C/O rất khiêm tốn, chỉ đạt 1,67% do doanh nghiệp cần thời gian đáp ứng các quy tắc xuất xứ phức tạp và cấu trúc chuỗi cung ứng.  RCEP (Mẫu RCEP) trong năm đầu tiên chính thức áp dụng (2022) ghi nhận tỷ lệ 0,67%. VIFTA (Israel) năm 2025 khi mới thực hiện đạt mức 2,2%. Khá hơn một chút, EVFTA (EU - Mẫu EUR.1) và UKVFTA (Anh) ghi nhận sự bắt nhịp nhanh hơn, đạt tương ứng 14,8% (năm 2020) và 17,2% (năm 2021).

Giai đoạn 2023-2025 chứng kiến sự biến động đáng kể về tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi giữa các nhóm thị trường, phản ánh thực tế về năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ cũng như chiến lược lựa chọn mẫu C/O tối ưu của doanh nghiệp.

Theo đó, xuất hiện một số nhóm thị trường duy trì tỷ lệ tận dụng ở mức cao và ổn định như Hiệp định với Ấn Độ (AIFTA - Mẫu AI) với khả năng tận dụng ưu đãi hiệu quả nhất trong các năm gần đây, liên tục giữ đỉnh cao với 72,6% (2023), 65,12% (2024) và 56,6% (2025); Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA - Mẫu EAV) có tỷ lệ tận dụng tăng vọt từ mức 39% (năm 2021) lên 78,5% vào năm 2023, trước khi hạ nhiệt xuống 62,7% vào năm 2025; Thị trường Hàn Quốc (AKFTA/VKFTA) giữ phong độ rất ổn định qua các năm, duy trì ở mức 51,9% (2023), 51,27% (2024) và đạt 39,9% trong năm 2025.

Doanh nghiệp Việt tận dụng tốt C/O ưu đãi vào thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản
Doanh nghiệp Việt tận dụng tốt C/O ưu đãi vào thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản

Doanh nghiệp chuyển dịch rõ nét trong tận dụng ưu đãi

Nhóm các FTA thế hệ mới cũng có sự tăng trưởng tích cực nhưng bắt đầu điều chỉnh. Cụ thể, EVFTA (Liên minh Châu Âu) & UKVFTA (Vương quốc Anh) đều ghi nhận bước tiến lớn trong năm 2023-2024 khi tỷ lệ tận dụng vọt lên trên 35% - 36% (EVFTA đạt 35,2% năm 2023; UKVFTA đạt 36,2% năm 2024). Đến năm 2025, tỷ lệ này điều chỉnh nhẹ về mức 34,1% đối với EVFTA (kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O ưu đãi đạt 18,131 tỷ USD trên tổng 56,18 tỷ USD) và 31,9% đối với UKVFTA (đạt 2,68 tỷ USD sử dụng C/O).

CPTPP có tỷ lệ tận dụng cải thiện dần từ mức khởi điểm (1,67%) lên 6,3% (2023), đạt đỉnh 8,84% (2024) với kim ngạch có C/O đạt 5,42 tỷ USD, sau đó giữ mức 7,7% năm 2025. Mức tỷ lệ này tuy thấp hơn các FTA khác nhưng mang tính thực chất do tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường có FTA trùng lặp (như Nhật Bản, Chile) thường được doanh nghiệp linh hoạt chọn mẫu C/O có thuế suất ưu đãi hơn.

Các thị trường khu vực và đối tác truyền thống cũng có mức tăng trưởng đáng kể như ACFTA (Trung Quốc) khi năm 2024 ghi nhận mức bứt phá mạnh lên 41,8% trước khi điều chỉnh về 32,2% vào năm 2025 (ứng với kim ngạch cấp C/O ưu đãi là 22,69 tỷ USD trên tổng số 70,45 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu); Với ATIGA (ASEAN), tỷ lệ sử dụng C/O Mẫu D duy trì ổn định trong khoảng 40,1% - 41,4% trong giai đoạn 2023-2024 và ghi nhận 31,3% vào năm 2025 (đạt 12,02 tỷ USD kim ngạch cấp C/O); AANZFTA (Australia/New Zealand) ghi nhận giữ mức tỷ lệ khá đều đặn quanh 37,47% – 40,4% trong 3 năm qua.

Đáng chú ý, dù là hiệp định đa phương quy mô lớn nhưng RCEP có tỷ lệ cấp C/O ưu đãi trực tiếp theo biểu RCEP vẫn ở mức thấp khi chỉ đạt 1,83% vào năm 2024 và 1,6% năm 2025. Nguyên nhân, theo một số chuyên gia đánh giá, có thể do doanh nghiệp trong khối ASEAN vẫn ưu tiên tận dụng các mẫu C/O sẵn có như ATIGA hay ACFTA có lộ trình giảm thuế sâu hơn từ trước.

Tuy thế, nhìn tổng thể toàn bộ các hiệp định, tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi trung bình của Việt Nam giai đoạn 2023-2024 duy trì ở mức khoảng 33,6%-37,4%. Tổng kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O ưu đãi năm 2024 đạt hơn 95,06 tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng lên 98,421 tỷ USD trong năm 2025.

 Sự biến động tỷ lệ tận dụng C/O qua từng năm cho thấy doanh nghiệp Việt Nam ngày càng chủ động và linh hoạt hơn. Việc lựa chọn mẫu C/O không chỉ phụ thuộc vào sự sẵn có của FTA mà còn căn cứ vào chênh lệch thuế suất ưu đãi đặc biệt giữa các hiệp định chồng lấp, năng lực tự chứng nhận xuất xứ, cũng như khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ cụ thể của từng mặt hàng.

Hà Giang