Nhận diện hành vi và bảo vệ hiệu quả người bị bạo lực tình dục trong hôn nhân

Nhận diện hành vi và bảo vệ hiệu quả người bị bạo lực tình dục trong hôn nhân
Tiến sĩ - Luật sư Nguyễn Thị Thúy Hường. (Nguồn: NVCC)

(PLVN) - Bạo lực tình dục (BLTD) là một trong hình thức biểu hiện của bạo lực gia đình (BLGĐ) và thực tế cho thấy nhiều người bị BLTD âm thầm chịu đựng, không dám lên tiếng vì định kiến xã hội và quan niệm sai lầm. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện nay đã nhìn nhận rất rõ hành vi này cũng là một dạng BLGĐ và có chế tài xử lý, răn đe.

Trao đổi với phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, Tiến sĩ - Luật sư Nguyễn Thị Thúy Hường, Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài thương mại Luật gia Việt Nam (VLCAC), Giám đốc Công ty Luật THR đã có những phân tích, chia sẻ cũng như lưu ý quan trọng để người bị BLTD tự bảo vệ mình và tìm kiếm sự hỗ trợ kịp thời.

Thưa bà, là một Luật sư đã trực tiếp tham gia giải quyết nhiều vụ việc BLGĐ, bà nhìn nhận như thế nào về thực trạng BLTD trong quan hệ vợ/chồng hoặc giữa những người từng là vợ/chồng ở Việt Nam hiện nay?

- BLTD trong hôn nhân vẫn đang diễn ra âm thầm nhưng lại là dạng bạo lực khó được nhận diện và lên tiếng nhất. Không ít người vẫn cho rằng, khi đã là vợ chồng thì quan hệ tình dục (QHTD) là “nghĩa vụ”, nên việc ép buộc đôi khi bị xem là chuyện riêng của gia đình, thay vì được nhìn nhận đúng bản chất là hành vi xâm hại quyền tự quyết đối với cơ thể của mỗi người.

Các số liệu cũng cho thấy thực trạng này đáng lo ngại. Theo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ), Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thực hiện, có tới 13,3% phụ nữ từng có chồng cho biết đã ít nhất một lần trong đời bị chồng hoặc chồng cũ BLTD, tăng đáng kể so với mức 9,9% của năm 2010. Riêng trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát, tỷ lệ này cũng tăng từ 4,2% lên 5,7%. Đáng chú ý, hành vi phổ biến nhất là ép buộc QHTD khi người phụ nữ không mong muốn. Có khoảng 13% phụ nữ từng trải qua tình trạng này trong đời và 6% gặp phải trong năm gần nhất. Đặc biệt, nhóm phụ nữ trẻ từ 18 đến 24 tuổi ghi nhận mức gia tăng mạnh nhất, từ 5,3% năm 2010 lên 13,8% năm 2019.

Nếu nhìn tổng thể, đây là nghịch lý rất đáng suy nghĩ. Trong khi các hình thức BLGĐ như bạo lực thể xác, tinh thần hay kinh tế đều có xu hướng giảm nhẹ sau gần một thập kỷ, thì BLTD lại là hình thức duy nhất có xu hướng gia tăng.

Tuy nhiên, điều đáng lo hơn cả là những con số thống kê ấy vẫn chưa phản ánh đầy đủ thực tế. Gần một nửa số phụ nữ bị bạo lực chưa từng kể với bất kỳ ai và hơn 90% nạn nhân của bạo lực thể xác hoặc tình dục không tìm đến các dịch vụ hỗ trợ chính thức. Điều đó cho thấy phần lớn các vụ việc vẫn đang bị ẩn sau cánh cửa gia đình.

Theo tôi, rào cản lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở pháp luật mà còn ở nhận thức xã hội. Trong văn hóa Á Đông, tình dục vẫn là chủ đề nhạy cảm, ít được chia sẻ. Nhiều phụ nữ cảm thấy xấu hổ khi nói về việc mình bị ép buộc, thậm chí ngay cả với người thân. Đáng nói hơn, vẫn còn không ít người cho rằng đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng là trách nhiệm hay bổn phận của người vợ. Chính định kiến này đã vô tình bình thường hóa hành vi ép buộc QHTD, khiến nhiều người không nhận ra mình đang bị bạo lực hoặc biết nhưng vẫn chọn cách im lặng để giữ gìn gia đình. Và đó cũng là lý do khiến BLTD vẫn tồn tại dai dẳng, âm thầm nhưng vô cùng nhức nhối.

Thưa Luật sư, hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định thế nào về hành vi ép buộc vợ/chồng hoặc người từng là vợ/chồng QHTD trái ý muốn? Người có hành vi vi phạm có thể phải chịu những trách nhiệm pháp lý gì?

- Có thể khẳng định rằng, pháp luật Việt Nam hiện nay đã nhìn nhận rất rõ hành vi ép buộc QHTD trong hôn nhân là một dạng BLGĐ và có cơ chế xử lý.

Bạo lực tình dục là một trong những hình thức biểu hiện của bạo lực gia đình. (Nguồn: Bộ VH,TT&DL.)
Bạo lực tình dục là một trong những hình thức biểu hiện của bạo lực gia đình. (Nguồn: Bộ VH,TT&DL.)

Theo điểm i và điểm k khoản 1 Điều 3 của Luật Phòng, chống BLGĐ số 13/2022/QH15 (hiệu lực từ 1/7/2023), các hành vi BLTD đã được quy định rất rõ ràng. Trong đó, hành vi “cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng” (điểm i) là một quy định cốt lõi. So với khái niệm chung chung là “cưỡng ép quan hệ tình dục” tại Luật năm 2007, Luật mới đã làm rõ yếu tố “trái ý muốn” và định danh trực diện mối quan hệ “vợ hoặc chồng”, giúp xóa bỏ định kiến giới và xử lý nghiêm minh hơn nạn BLTD trong hôn nhân.

Không chỉ dừng lại ở đó, điểm k khoản 1 Điều 3 của Luật cũng đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hành vi “cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực”, thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với BLTD trong gia đình.

Về chế tài, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, người có hành vi ép buộc vợ, chồng hoặc người từng là vợ, chồng QHTD trái ý muốn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về xử phạt hành chính, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 (thay thế Nghị định số 144/2021/NĐ-CP), đã dành riêng Điều 41 để quy định về các hành vi BLTD trong gia đình. Theo đó, hành vi cưỡng ép vợ hoặc chồng QHTD trái ý muốn, trong trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc cưỡng ép thành viên gia đình trình diễn hành vi khiêu dâm, có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Đối với hành vi cưỡng ép thành viên gia đình nghe âm thanh, xem hình ảnh hoặc đọc nội dung khiêu dâm thì mức phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Trong trường hợp hành vi có dấu hiệu tội phạm, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cụ thể, nếu người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng nạn nhân không thể tự vệ để ép buộc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn thì có thể bị xử lý về tội “Hiếp dâm” theo Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khung hình phạt cơ bản của tội danh này là từ 02 năm đến 07 năm tù và có thể tăng lên các khung hình phạt nghiêm khắc hơn nếu có các tình tiết định khung tăng nặng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp người phạm tội không sử dụng vũ lực nhưng lợi dụng sự lệ thuộc về kinh tế, tinh thần hoặc lợi dụng hoàn cảnh quẫn bách khiến nạn nhân buộc phải miễn cưỡng QHTD thì có thể bị truy cứu về tội “Cưỡng dâm” theo Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), với khung hình phạt cơ bản từ 01 năm đến 05 năm tù, đồng thời có các khung hình phạt cao hơn nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có các tình tiết tăng nặng.

Bên cạnh trách nhiệm hành chính hoặc hình sự, người có hành vi bạo lực còn phải chịu trách nhiệm dân sự. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, nạn nhân có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 590 về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và Điều 592 về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Khoản bồi thường có thể bao gồm chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe, thu nhập bị mất hoặc giảm sút cũng như khoản bù đắp tổn thất về tinh thần.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh, là quan hệ hôn nhân không làm mất đi quyền tự quyết đối với cơ thể của mỗi người. Việc đã là vợ chồng (hoặc từng là vợ chồng) không đồng nghĩa với việc một bên có quyền ép buộc bên kia QHTD trái ý muốn. Khi hành vi đó xảy ra, pháp luật hoàn toàn có căn cứ để xử lý nhằm bảo vệ quyền, nhân phẩm và sự an toàn của nạn nhân.

Khi là nạn nhân của BLTD trong quan hệ hôn nhân hoặc sau khi ly hôn, người bị hại cần thực hiện những bước gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Luật sư có lời khuyên nào về việc thu thập chứng cứ và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các cơ quan có thẩm quyền?

- Theo tôi, điều quan trọng nhất là người bị bạo lực phải đặt sự an toàn của bản thân lên hàng đầu. Trong nhiều trường hợp, vì hoảng loạn hoặc vì nhiều nguyên nhân, mà người bị bạo lực chần chừ, không rời khỏi nơi nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu có nguy cơ tiếp tục bị xâm hại hoặc bị đe dọa đến tính mạng, hãy tìm cách thoát khỏi nơi đó càng sớm càng tốt, gọi ngay 113 để được lực lượng Công an hỗ trợ, đồng thời tìm đến nhà người thân hoặc các cơ sở tạm lánh như Ngôi nhà Bình yên, Ngôi nhà Ánh Dương và các cơ sở hỗ trợ khác.

Cũng cần lưu ý rằng, theo Điều 28 Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022, người bị BLGĐ có quyền được bố trí nơi tạm lánh và được hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu. Đây là quyền lợi hợp pháp mà nạn nhân cần biết để chủ động yêu cầu được bảo vệ.

Sau khi đã bảo đảm an toàn, việc tiếp theo là thu thập và bảo toàn chứng cứ. Đây là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xử lý vụ việc. Đối với các vụ BLTD, chứng cứ sinh học rất dễ bị mất nếu người bị bạo lực tắm rửa, thay quần áo hoặc dọn dẹp hiện trường. Vì vậy, khi xảy ra vụ việc, người bị BLTD cần liên hệ ngay với cơ quan chức năng để được hướng dẫn các vấn đề cần thiết để bảo toàn chứng cứ vật lý, chứng cứ sinh học, tìm kiếm sự giúp đỡ của nhân chứng (nếu có)… Người bị bạo lực cũng nên ghi lại diễn biến vụ việc càng sớm càng tốt, bao gồm thời gian, địa điểm, hành vi của người có hành vi bạo lực và những gì mình đã trải qua, bởi ký ức sẽ dễ bị phai nhạt. Nếu trước đây từng trình báo Công an, chính quyền địa phương hoặc từng đi khám, điều trị thương tích do BLGĐ, hãy lưu giữ toàn bộ biên bản, hồ sơ y tế và bệnh án để chứng minh hành vi bạo lực...

Tất cả những vấn đề này sẽ giúp cho người bị BLTD tự bảo vệ mình và giúp cơ quan chức năng sớm tiến hành các hành động pháp lý cần thiết với người gây ra bạo lực.

"Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp thực hiện"

Hương Ngọc