Nguyễn Đình Thi- một chung cư đồ sộ
Theo nhà văn Nguyễn Đình Chính (con trai nhà văn Nguyễn Đình Thi) thì Nguyễn Đình Thi là con người mang ba dòng máu.
“Cụ nội tôi là người Chà Và (Ấn Độ) ..., cụ lấy một người đàn bà tại làng Vũ Thạch, sinh ra ông nội tôi và lấy họ vợ làm khai sinh cho con. Ông nội tôi là nhân viên ngành dây thép (bưu điện) của Pháp, được điều sang Luang Prabang làm việc. Ở đây, ông yêu một người phụ nữ gốc Hoa và sinh ra cha tôi vào ngày 20 tháng 12 năm 1924. Năm 1931, người Pháp điều ông nội tôi về làm việc ở Bưu điện Hà Nội. Hai ông bà cùng cha tôi về Hà Nội trên lưng ngựa. Như vậy cha tôi mang trong mình ba dòng máu Ấn - Hoa - Việt. Nhưng có lẽ gene Ấn là trội nhất”. Có phải ba dòng máu pha trộn đó đã làm nên một chung cư đồ sộ chăng ?
Từ nhỏ, Nguyễn Đình Thi đã nổi tiếng thông minh, học rất giỏi tất cả các môn, đặc biệt là môn Triết. Đang đi học mà ông đã viết sách triết học như "Triết học nhập môn", "Triết học Căng", "Triết học Nitsơ", "Triết học Anhxtanh", "Siêu hình học" (đều viết năm 1942) và cùng một số người bạn học bí mật nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông học Luật ở Đại học Đông Dương và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Hội Văn hoá Cứu quốc. Là trí thức yêu nước, Nguyễn Đình Thi đã sớm trở thành người chiến sĩ cách mạng trung kiên. Tháng 7.1945, ông được đi dự Quốc dân Đại hội tại Tân Trào và được cử vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Từ đó cho đến cuối đời, ông liên tục đảm nhận những cương vị quan trọng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
Tuy nhiên, người ta hay nhắc đến Nguyễn Đình Thi không phải ở khía cạnh của một con người hoạt động chính trị mà người ta thường nghĩ đến ông đến ở khía cạnh của một nghệ sĩ đa tài. Ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê bình. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng. Trước hết về thơ, đây là lĩnh vực ông dành nhiều tâm huyết nhất, ông luôn trăn trở tìm tòi hướng sáng tạo nhằm đổi mới diện mạo thơ ca. Nhờ tài năng và bản lĩnh sáng tạo, ông có một phong cách thơ riêng, độc đáo và hiện đại. Thơ ông dạt dào cảm hứng yêu thương sâu lắng về đất nước "vất vả, gian nan, tươi thắm vô ngần". Đất nước đau thương và quật khởi, con người vất vả và anh hùng là chủ đề quán xuyến trong thơ ông. Với tình cảm gắn bó tha thiết với đất Việt yêu thương, với niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, ông đã cho ra đời những bài thơ bất hủ như "Đất nước", "Nhớ", "Bài thơ Hắc Hải", "Lá đỏ". Những câu thơ tha thiết lắng đọng giàu chất triết lý chiêm nghiệm về sự kỳ diệu của sự sống, của tình yêu, của sức mạnh tiềm ẩn trong con người Việt Nam hiền lành đôn hậu. Bên cạnh thơ là địa hạt văn xuôi. Có thể nói, Nguyễn Đình Thi là nhà văn nhạy cảm và luôn có mặt trên dòng thời cuộc của dân tộc. Những tác phẩm văn xuôi của ông là sự phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến. "Xung kích" - tiểu thuyết đầu tay, đã tái hiện sinh động cuộc chiến đấu của một đại đội xung kích kháng chiến chống Pháp (TP đoạt giải thưởng văn nghệ 1951 – 1952). Rồi, "Thu đông năm nay" (1954), "Bên bờ sông Lô" (1957), "Vào lửa" (1966), "Mặt trận trên cao" (1967), đều là những tác phẩm mang tính thời sự nóng hổi về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Nhưng thành công lớn nhất ở thể loại văn xuôi phải kể đến hai tập của tiểu thuyết "Vỡ bờ"- tác phẩm đã tái hiện bức tranh nhiều chiều của xã hội Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945. Nó thể hiện khát vọng của nhà văn muốn vươn tới khái quát một phạm vi rộng lớn từ đô thị cho tới nông thôn, để có thể đạt tới tính chất tổng hợp quá trình vận động của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc. Không những làm thơ, viết truyện mà ông còn là một cây bút viết lý luận, phê bình văn học khá sắc sảo và có phong cách riêng. Ông viết nhiều tiểu luận tiến bộ dưới ảnh hưởng của quan điểm văn nghệ Mác xít. Tiểu luận "Nhận đường" của ông đã giúp thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ tìm ra con đường đi đúng đắn: "Văn nghệ phụng sự chiến đấu nhưng chính chiến đấu đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, sắt lửa mặt trận đang đúc lên văn nghệ mới của chúng ta" (Nhận đường). Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông cùng với một thế hệ các nhà văn cách mạng như Tô Hoài, Nam Cao, Trần Đăng hăng hái tham gia kháng chiến, hoà vào dòng chảy của lịch sử dân tộc, vừa cầm bút vừa cầm súng đi chiến đấu chống quân thù. Đặc biệt, tuy không phải là người chuyên viết kịch bản nhưng cho đến nay hàng chục vở kịch của ông đã để lại dấu ấn sâu sắc trên sân khấu kịch Việt Nam. Ông mang đến cho kịch tiếng nói mới mẻ. Từ vở "Con nai đen" (1961) đến "Hoa và Ngần" (1975), "Giấc mơ" (1983), "Rừng trúc" (1978), "Nguyễn Trãi ở Đông Quan" (1979), "Người đàn bà hóa đá" (1980), "Tiếng sóng" (1980), "Cái bóng trên tường" (1982), "Trương Chi" (1983), và "Hòn Cuội" (1983 - 1986). Kịch bản nào cũng là những nỗ lực cách tân không mệt mỏi nhằm mở rộng dung lượng sức chứa cũng như làm giàu thêm tính văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lý của kịch. Cũng giống như thơ, số phận những tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi không hề suôn sẻ. Vở "Con nai đen" có kịch bản từ năm 1961 nhưng đến năm 1990 mới được dàn dựng lần đầu, "Hoa và Ngần" (1974) dựng xong nhưng không được công diễn. "Nguyễn Trãi ở Đông Quan" đầy tâm huyết trăn trở về cuộc đời, đã từng gây ra một hiện tượng trong đời sống sân khấu nói riêng và văn nghệ nói chung những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước, nhưng chỉ được diễn một vài lần rồi bị cấm. Vở "Rừng trúc" được viết từ năm 1979 nhưng phải chờ đợi 20 năm mới được lên sân khấu và đã được tặng Huy chương vàng Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm 1999. Đây là vở kịch gây được tiếng vang lớn không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Phải chăng nhà văn quá tiên phong nên trở thành xa lạ hay đó là cái giá phải trả của tìm tòi thể nghiệm đầy tài năng? Thế giới nghệ thuật kịch của nhà văn là một thế giới văn hoá đa dạng nhiều màu sắc và tất cả đều thể hiện tình yêu tha thiết của một nghệ sĩ tài năng tâm huyết với đất nước, với dân tộc, thể hiện những trăn trở xót xa về số phận con người và những khát vọng sáng tạo nghệ thuật.
Trong rất nhiều danh hiệu của nhà văn, người ta còn phải nhắc đến một danh hiệu cao quý khác, đó là nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, dẫu ở địa hạt âm nhạc ông chỉ như một chàng lãng tử ghé qua đôi chút. Nhưng chỉ với đôi chút ấy thôi cũng đủ làm nên những kiệt tác bất hủ. Trong một đêm đầu năm 1947, lúc bắt đầu những ngày khói lửa ở Hà Nội, ông đã cho ra đời "Người Hà Nội" - kiệt tác âm nhạc vào hàng hay nhất và lớn nhất của âm nhạc Việt Nam thế kỷ qua. Trong những ngày khởi nghĩa Tháng Tám 1945 sục sôi, Nguyễn Đình Thi cũng cho ra đời "Diệt phát xít" - ca khúc đi vào bất tử trong lòng mỗi người dân đất Việt. Tuy sáng tác không nhiều nhưng ở lĩnh vực âm nhạc, Nguyễn Đình Thi là nhạc sĩ tài hoa và đầy tâm huyết. Chỉ với 2 ca khúc nhưng ông hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu nhạc sĩ, danh hiệu cao quý mà những người yêu âm nhạc tôn vinh ông.
Nguyễn Đình Thi đã qua đời ngày 18-4-2003 nhưng sự nghiệp của ông, trí tuệ và tài năng của ông đã trở thành bất tử. Do những công lao và cống hiến xuất sắc trên nhiều mặt, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều Huân chương, Huy chương cao quí cùng với Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật.