Nguy cơ cạn kiệt nguồn cát sông tại Đồng bằng sông Cửu Long: Bộ Xây dựng đề xuất kết hợp các giải pháp khắc phục
(PLVN) - Bộ Xây dựng vừa có báo cáo về nhu cầu, thực trạng, giải pháp bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng (VLXD) thông thường cho các dự án tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Nguồn cát tại ĐBSCL bị suy giảm nghiêm trọng
Theo báo cáo của các địa phương và đơn vị liên quan, năm 2026, các dự án đang triển khai thi công ở ĐBSCL còn thiếu và chưa xác định được nguồn hơn 1,8 triệu m3 cát xây dựng (dùng cho bê tông); 30 triệu m3 cát san lấp.
Giai đoạn 2027 - 2030, so với nhu cầu sử dụng của các dự án, khối lượng cát xây dựng (dùng cho bê tông) còn thiếu và chưa xác được nguồn gần 4 triệu m3; cát san lấp hơn 278 triệu m3; đất đắp 35,8 triệu m3.
Khảo sát cho thấy, nguồn cát sông trong khu vực tập trung chủ yếu tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp (cũ), Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh (cũ). Tuy nhiên, chỉ ở khu vực An Giang, Đồng Tháp (cũ) và một số mỏ ở Vĩnh Long là khu vực thượng nguồn sông có chất lượng cát đáp ứng tiêu chuẩn làm vật liệu đắp nền đường. Các khu vực còn lại thường lẫn nhiều tạp chất, tỷ lệ bùn lớn, thân cát nằm sâu và mỏng, việc tổ chức khai thác gặp nhiều khó khăn.
Đến nay, các địa phương đã cấp phép khai thác với tổng trữ lượng khoảng 67 triệu m3. Khối lượng đã cấp phép trong khu vực cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng cho các dự án đang triển khai, những công suất khai thác chưa đáp ứng tiến độ các dự án.
Theo báo cáo, khoảng 10 năm gần đây, tình trạng thiếu hụt trầm tích tại sông Tiền và sông Hậu xuất phát từ việc giữ lại trầm tích ở các đập thủy điện thượng nguồn là rất nghiêm trọng. Với tốc độ khai thác trong thời gian qua, nguồn cát tại ĐBSCL bị suy giảm nghiêm trọng, không có khả năng phục hồi, sớm có thể cạn kiệt. Việc khai thác toàn bộ trữ lượng cát lòng sông hiện có không chỉ gây tác động đáng kể đến cân bằng địa mạo và hệ sinh thái sông ngòi, mà còn làm suy giảm khả năng chống chịu của khu vực trước các tác động của biến đổi khí hậu. Như vậy, khả năng khai thác nguồn cát sông để triển khai các dự án trong thời gian tới là rất khó khăn.

Với cát biển, theo Bộ Xây dựng, trên cơ sở kết quả nghiên cứu và hướng dẫn của các Bộ chuyên ngành, Cần Thơ đã cấp phép 2 mỏ cát biển (B1.1, B1.2) trữ lượng 5,5 triệu m3 cung ứng cho dự án Hậu Giang - Cà Mau (đã khai thác, đưa về công trường 1,1 triệu m3, không còn nhu cầu khai thác 4,4 triệu m3), đã cấp phép 1 mỏ cát biển (B1.3) trữ lượng 2 triệu m3 cung ứng cho dự án thành phần 4 cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; 1 mỏ cát biển (B1.5) trữ lượng hơn 17 triệu m3 cung ứng cho dự án Cà Mau - Cái Nước.
Nguồn cát biển có trữ lượng lớn nhưng do đặc thù khai thác trên biển, phương tiện đáp ứng đủ các điều kiện để khai thác không nhiều, việc khai thác khu vực gần bờ biển với mức mớn nước thấp, chỉ sử dụng được các tàu công suất nhỏ.
Ngoài ra, do biển động, gió chướng nên chỉ có thể khai thác từ tháng 3 đến hết tháng 8 hàng năm. Sau khi khai thác phải rửa mặn, trung chuyển cát nhiều lần từ tàu lớn sang tàu nhỏ, cự ly vận chuyển xa; dẫn đến giá thành cát biển cao hơn so với cát sông, các địa phương còn hạn chế sử dụng.
Kết hợp nhiều giải pháp khắc phục
Về nguồn cát nhập khẩu, thời gian qua, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp tổ chức làm việc tại Campuchia và có báo cáo Thủ tướng. Theo đó, trữ lượng cát của Campuchia phục vụ san lấp, xây dựng dồi dào, cung cấp đủ cho nhu cầu trước mắt và lâu dài của các tỉnh phía Nam, hoạt động cung cấp cát không có vướng mắc về chủ trương, chính sách của Chính phủ hai nước, là nguồn cung lớn cho các dự án. Tuy nhiên, nguồn cát này có giá thành cao hơn so với cát trong nước.
Về nghiên cứu xây dựng cầu cạn, Bộ Xây dựng đã tổ chức so sánh, đánh giá giữa giải pháp xây dựng đường bộ cao tốc tại khu vực ĐBSCL trên nền đất so với sử dụng cầu cạn, trong đó xét đến các yếu tố ảnh hưởng chi phí cho cả vòng đời công trình. Nếu tính chi phí đầu tư ban đầu, phương án xây dựng cầu cạn cao gấp 1,6 - 1,7 lần so với đắp nền thông thường. Tính tổng chi phí cả vòng đời (100 năm) thì cao gấp 1,10 - 1,14 lần. Bảo đảm hiệu quả triển khai các dự án đường bộ cao tốc giai đoạn 2026 - 2030 và các năm tiếp theo, Bộ Xây dựng đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành về sử dụng giải pháp cầu cạn trong đầu tư các dự án hạ tầng giao thông.
Để đáp ứng nguồn VLXD các dự án trọng điểm khu vực ĐBSCL, Bộ Xây dựng kiến nghị chỉ đạo Bộ chuyên ngành quản lý về khoáng sản hướng dẫn các địa phương rà soát, đánh giá trữ lượng, chất lượng các mỏ VLXD, tổ chức điều phối giữa các địa phương. Các địa phương có nhu cầu chủ động phối hợp với các địa phương có mỏ triển khai các thủ tục để hình thành các chuỗi liên kết, cung ứng vật liệu ổn định; thông báo giá phù hợp mặt bằng giá của chuỗi cung ứng làm cơ sở lập dự toán.
Các địa phương cũng cần chủ động nghiên cứu các khu vực phù hợp để sử dụng cát biển, giảm áp lực cho nguồn cát sông; xem xét quy hoạch các khu vực được sử dụng cát biển gắn với quy hoạch vùng sản xuất để mở rộng phạm vi sử dụng cát biển; có giải pháp xử lý giảm độ mặn để sử dụng làm vật liệu đắp nền cho các công trình; chủ động tổ chức nhập khẩu cát để cung ứng cho các công trình, dự án (nếu cần).
Cùng với đó là nghiên cứu giải pháp cầu cạn khi đầu tư xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc khu vực ĐBSCL ngay từ bước lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư hoặc đề xuất dự án. Với dự án cải tạo, nâng cấp, cần nghiên cứu áp dụng giải pháp tái chế móng, mặt đường.
Về việc nghiên cứu sử dụng vật liệu bổ sung, thay thế, Bộ Xây dựng cho biết, ĐBSCL là khu vực thường xuyên ngập nước, mực nước ngầm cao, hầu như khó sử dụng tro, xỉ phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện làm vật liệu đắp nền đường.
Mặt khác, do vấn đề về môi trường, chi phí vận chuyển tro, thiết bị phối trộn chưa được đầu tư đồng bộ, đơn giá tro xỉ tại một số địa phương còn cao, khối lượng tro, xỉ từ các nhà máy khu vực phía Nam không lớn, việc sử dụng vật liệu tro, xỉ làm vật liệu đắp nền đường cho ĐBSCL là khó khả thi.
Với nguồn cát nghiền và đá nghiền, đây là nguồn vật liệu thay thế có chất lượng ổn định; nhưng việc tổ chức sản xuất đòi hỏi khối lượng vật liệu đá lớn, giá thành sản xuất cao nên chỉ phù hợp khi sử dụng cho công trình có khối lượng nhỏ (chủ yếu dùng làm cốt liệu cho bê tông xi măng, bê tông nhựa, vữa xây dựng), không thể thay thế vật liệu đắp nền cho công trình có khối lượng lớn.