Người... "treo cổ" chữ
Mỗi khi có người hỏi ông làm nghề gì, ông Hùng thường trả lời: “Tôi viết chữ ra rồi treo cổ lên”. Ấy là cách ông Hùng nói vui về công việc của mình. Bởi cuộc đời ông, đến đâu, ở đâu cũng “dính dáng” tới chuyện viết chữ...
Người yêu nét chữ
Ông Hùng kể, từ nhỏ ông đã viết chữ rất đẹp. Học lớp 5, ông đã phụ trách tất cả các tờ báo tường của lớp, của trường. “Năm 1964-1965, Công an quận 7 (huyện Thanh Trì bây giờ) đã “triệu tập” tôi mấy tháng để viết chứng minh thư. Lúc đó tôi mới 16-17 tuổi, rất hãnh diện khi được làm việc này. Tôi rất tự hào vì trong chứng minh thư của nhiều người có nét chữ của mình”, ông Hùng chia sẻ.

Ông Nguyễn Đình Hùng và bài thơ “Xử thế” viết chữ ngược.
Ông Hùng bắt đầu làm quen với chữ Hán khi được cử đi học ở Trung Quốc những năm 1965-1966. Sau khi về nước, ông học Khoa Thư viện, Đại học Văn hóa. Ra trường, ông làm Chủ nhiệm Thư viện ở Phòng Tuyên huấn của Cục Chính trị Không quân. Thời gian trong quân ngũ, ông thường xuyên viết băng rôn khẩu hiệu cho quân chủng. “Tôi chủ yếu viết tay, chứ thời đó lấy đâu ra giấy dán hồ sẵn như bây giờ”, ông Hùng nhớ lại.
Mỗi khi có người hỏi ông làm nghề gì, ông Hùng thường trả lời: “Tôi viết chữ ra rồi treo cổ lên”. Ấy là cách ông Hùng nói vui về công việc của mình. Bởi cuộc đời ông, đến đâu, ở đâu cũng “dính dáng” tới chuyện viết chữ. Nhưng có lẽ cái nghiệp viết chữ chỉ thực sự bám chặt lấy ông khi ông rời quân ngũ để đi lao động ở Đức: “Khi về, tôi tham gia công tác ở địa phương. Cũng nhờ vào việc biết viết chữ, tôi được cử làm Trưởng ban văn hóa phường Tân Mai, rồi sau đó được điều động sang làm cho cả phường Ngô Thì Nhậm, vừa làm quân vừa làm sếp vì cả ban chỉ có... mình tôi”.
“Bây giờ, từ Bà Triệu, Phố Huế cho đến Bạch Mai, tất cả những băng treo ngang đường đều là của tôi”, ông Hùng hồ hởi khoe. Đặc biệt, trên các băng rôn đó đều là chữ ông Hùng viết tay chứ không dùng chữ cắt vi tính. Ông viết rất nhiều kiểu chữ, chữ in, chữ hoa... chữ nào cũng rất đẹp. Ông còn được huy động viết cả giấy khen, giấy mừng thọ...
Thư pháp ngược
“Nghề này không vất vả nhưng cần cẩn thận, nó khiến cho tính tình của tôi cũng trở nên chỉn chu hơn”. Quả vậy, ông Hùng tỏ ra là người rất ngăn nắp. Ngôi nhà nhỏ của ông trên đường Trương Định thật ấm áp và gọn gàng. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho ông chút phóng túng của người làm công việc có phần nghệ thuật. Ông tự nghĩ ra một thú tiêu khiển rất thú vị cho mình với nghề viết chữ: Thư pháp ngược.
Tôi đề nghị ông viết bài thơ “Xử thế”, ông nhìn khổ giấy rồi đặt bút viết lập tức. Thoạt nhìn tưởng rằng ông đang viết chữ Hán vì ông có dùng các bộ của Hán ngữ như bộ Miên, bộ Sĩ, bộ Điền, bộ Khẩu... để viết.
“Những người biết chữ Hán nhìn chữ tôi viết thường thắc mắc không hiểu loại chữ gì mà họ không thể đọc được. Nhưng khi đọc ngược lại, biết rằng tôi viết chữ quốc ngữ, họ ồ lên thích thú. Cách viết chữ ngược này bắt nguồn từ một trò chơi thủa bé của tôi” - ông Hùng tâm sự.
Hồi còn đi học, ông và cậu bạn thường chép bài cô giáo đọc bằng chữ ngược. Ông viết chữ ngược nhanh như chữ xuôi và tôi học bài bằng chữ ngược đó. Có chứng kiến ông Hùng viết thư pháp ngược mới thấy trò đùa nghịch ngày còn bé cũng lắm công phu. Ông có thể viết ngay lập tức, không đắn đo hay nghĩ xem nét này nên viết thế nào để khi lật ngược lại không bị hỏng.
Ông Hùng nhận định, trong những năm gần đây, không gian văn hóa thư pháp chữ Việt ngày càng được mở rộng, tạo thành phong trào rộng khắp trong cả nước. Từ môn nghệ thuật mang tính tự phát của một số người hoài cổ trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, ngày nay, thư pháp chữ Việt đã có mặt từ góc phố, lề đường đến các cửa hàng văn hóa phẩm, nhà sách, phòng trưng bày, triển lãm, hội chợ, lễ hội văn hóa...
Ông tỏ ra am hiểu khi nói về thư pháp chữ Việt: “Với chữ quốc ngữ, khi xuất hiện ở Việt Nam đã có nhiều tác phẩm viết như rồng bay phượng múa, nhưng chưa được xem là thư pháp. Khoảng năm 1950, trào lưu thư pháp, tranh nổi bật với các nghệ nhân như Vũ Hối, Nam Giang. Đặc biệt, từ những bài thơ của Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương viết theo lối thư pháp khoảng những năm 1950 đã đánh dấu sự ra đời của Thư pháp quốc ngữ và Đông Hồ được xem là ông tổ của thư pháp quốc ngữ”.
Thờ chữ để rèn tâm
Mang danh là thú chơi thanh tao, bác học nhưng nghệ thuật thư pháp cũng ngộ lắm, chẳng giống ai - ông Hùng ví von một cách hóm hỉnh: Nó phảng phất nét mơ màng nghệ sĩ, đỏng đảnh như gái mới lớn, hờn dỗi giống kẻ đang yêu nhưng lại mạnh mẽ cứng cỏi tựa cây măng trong khóm tre, bụi trúc. Một nét chữ viết ra, là vẽ nên một chân dung tự họa. Người ta có thể đọc được tính cách con người: Đức bao dung, lòng ngay thẳng, vẻ thiện ác...
Theo ông, để có bức thư họa đẹp, người viết thư pháp phải nhập tâm. Tâm bình thì nét bút mới thanh thoát, phóng khoáng. Do đó, người viết thư pháp phải vượt qua được “bức tường” sân, si, hỉ, nộ của bản thân để tìm đến chữ ngộ, vì chữ ngộ bao hàm tất cả những nét đẹp tinh hoa trong tâm hồn mỗi con người.
Chơi chữ từng được ông cha ta xem là cái đạo, thờ chữ để rèn tâm, viết chữ để dưỡng tính, xin chữ chọn thầy, cho chữ chọn người... do đó không phải ai cũng đủ “bản lĩnh” bước chân vào chốn lắm công phu này.
“Chuyện chơi thư pháp thời xưa khá kén chọn, nếu không nói người muốn chơi được thư pháp phải có tầm văn hóa nhất định, hay nói đúng hơn phải đạt chuẩn trên mức của “ông đồ”. Nghĩ đi nghĩ lại thì tôi hiểu những gì mình đang làm chỉ là một cách để khiến cho bản thân mình vui hơn, tìm cách thể hiện mới cho những điều đã cũ. Mọi người yêu gọi là thư pháp chứ tôi chỉ dám nhận là trò vui của tuổi già thôi” - ông Hùng khiêm tốn.
Cuộc sống ngày càng bộn bề, bon chen, con người phải chịu áp lực cao vì những hối thúc của đời thường. Chính vì vậy, người ta tìm đến nghệ thuật viết chữ như để lắng lòng lại, tìm kiếm sự bình yên, thanh thoát trong tâm hồn, lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống. Từ đó, con người sẽ lạc quan và tìm thấy niềm tin vào bản thân. Và nghệ thuật là cả một rừng sáng tạo muôn màu muôn vẻ, ông Hùng vẫn đang từng bước cặm cụi gom nhặt từng chiếc lá khô trong khu rừng bao la đó, dẫu đã ở tuổi tri thiên mệnh.
Thu Hồng