Người say nghệ thuật Cồng chiêng

Nhạc sĩ Thái Nghĩa, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong việc sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật Cồng chiêng của đồng bào các dân tộc miền núi Quảng Nam và Đà Nẵng. Với anh, “Cồng chiêng chính là nơi thấm đậm tư chất, bản sắc trong đời sống của những người luôn gói trọn tình cảm quê hương trong những điều bình dị”...

Nhạc sĩ Thái Nghĩa, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong việc sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật Cồng chiêng của đồng bào các dân tộc miền núi Quảng Nam và Đà Nẵng. Với anh, “Cồng chiêng chính là nơi thấm đậm tư chất, bản sắc trong đời sống của những người luôn gói trọn tình cảm quê hương trong những điều bình dị”...

Mô tả ảnh.
Cồng chiêng và các nhạc cụ trong một lễ cúng của người Cơtu. Ảnh: THÁI NGHĨA

Nhạc sĩ Thái Nghĩa tâm sự, việc sưu tầm, nghiên cứu Cồng chiêng đã trở thành niềm đam mê trong anh, không chỉ bây giờ mà trong suốt quá trình thâm nhập thực tế lâu dài từ sau ngày giải phóng Quảng Nam-Đà Nẵng đến nay. Chỉ có niềm đam mê mới tạo động lực cho anh vượt đường xa, vượt núi cao, chịu đựng nhiều thử thách để gắn bó với nghệ thuật Cồng chiêng độc đáo của đồng bào suốt hàng chục năm qua. Với nhạc sĩ, khi âm thanh của Cồng chiêng cất lên, bao giờ cũng tạo nên những lay động khó tả, những dư âm không thể nào quên. Mặt khác, sự gắn bó, niềm đam mê nghiên cứu của nhạc sĩ còn xuất phát từ tầm quan trọng của Cồng chiêng trong văn hóa của đồng bào các dân tộc miền núi Quảng Nam và Đà Nẵng. Theo anh, nếu ví nghệ thuật âm nhạc của đồng bào dân tộc là một cây đại thụ thì phần Cồng chiêng được xem như là gốc, là rễ...

Có thể nói, không thể kể hết những khó khăn của người nghiên cứu khi mà đồng bào các dân tộc nhóm Gié-triêng, Xơ-đăng, Cơtu... là chủ nhân của một vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều sông suối và thung lũng hẹp. Bên cạnh đó, mỗi dân tộc lại có những biểu hiện riêng về nếp nghĩ, niềm tin, cảm xúc, tâm tình và ứng xử. Đặc biệt, mỗi loại hình nghệ thuật trong hệ thống những giá trị văn hóa của họ mang đậm dấu ấn riêng, từ hình thức đến nội dung.

Muốn sưu tầm tận “gốc” thì phải chịu khó phán đoán vùng miền và phải chịu khó lặn lội. Đồng bào những vùng này ít nói được tiếng Kinh, bất đồng về ngôn ngữ là khó khăn lớn nhất của việc khai thác tư liệu, đó là chưa kể đến những ngôn ngữ chuyên sâu chứa nhiều ẩn ý, đa hình tượng, đa nghĩa. Rồi trong luật tục của người vùng cao có những kiêng cử, cấm kỵ mà đến nay chúng ta cũng chưa thể lý giải được... Vì vậy, việc sưu tầm nguồn tư liệu vốn đã khó nhưng để nghiên cứu, biên khảo, bàn luận cho được bản chất của nguồn tư liệu đó lại càng khó khăn hơn.

Với quá trình sưu tầm, nghiên cứu bền bỉ, nhạc sĩ Thái Nghĩa đã khám phá, gọi tên những đặc trưng Văn hóa Cồng chiêng của đồng bào dân tộc miền núi Quảng Nam và Đà Nẵng với những lý giải sâu sắc, dễ hiểu. Chẳng hạn, cho đến nay, chúng ta chưa tìm được tài liệu nào cho thấy đồng bào các dân tộc miền núi ở Quảng Nam, Đà Nẵng có nghề đúc đồng, do đó, việc sử dụng cồng chiêng từ trước đến nay của đồng bào là do trao đổi mà có. Một khi đã thông qua trao đổi, thì với hoàn cảnh kinh tế tự cung tự cấp giữa vùng địa lý cách biệt, đồng bào không thể đủ sức để trao đổi với số lượng nhiều, vì giá trị vật chất của cồng chiêng khá lớn. Theo đó, có thể lý giải được vì sao dàn cồng chiêng của Tây Nguyên được biên chế từ 12 đến 24 chiếc, còn  dàn cồng chiêng của đồng bào ở Quảng Nam và Đà Nẵng thì chỉ có 4 đến 6 chiếc. Vì vậy, dàn nhạc của đồng bào Tây Nguyên đủ các cung bậc để phát triển phần giai điệu, còn ở Quảng Nam và Đà Nẵng, nhạc Cồng chiêng chỉ chú trọng phần nhịp điệu. Bởi nhịp điệu bao giờ cũng tạo cảm hứng cho nhảy múa, mà trong sinh hoạt Cồng chiêng của đồng bào bao giờ nhảy múa cũng chiếm phần quan trọng hơn hát xướng.

Nói thêm về loại hình nghệ thuật âm nhạc của đồng bào các dân tộc vùng rừng núi Quảng Nam, Đà Nẵng, nhạc sĩ Thái Nghĩa nhận thấy, mỗi dân tộc và nhóm dân tộc ở Quảng Nam và Đà Nẵng chỉ có khoảng 20 làn điệu dân ca và trên dưới 12 nhạc cụ. Trong đó, có những nhạc cụ sử dụng chung cho cộng đồng, nhưng cũng có nhạc cụ hay làn điệu dân ca chỉ sử dụng riêng cho nam, hoặc cho nữ, chẳng hạn đàn Tămpét Alui, sáo Aluốch, kèn Taghê, Crdol chỉ dành riêng cho nam, còn đàn Tơ-ren hoặc làn điệu dân ca Chr-xur thì chỉ dành riêng cho nữ. Có những loại nhạc cụ hoặc làn điệu dân ca lại chỉ dùng trên rẫy, trên đường, ngược lại, cũng có loại chỉ sử dụng riêng trong nhà...

Nghệ thuật Cồng chiêng nói riêng và nghệ thuật âm nhạc của đồng bào các dân tộc ở Quảng Nam và Đà Nẵng nói chung góp phần không nhỏ trong kho tàng văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhưng do những yếu tố khách quan, hầu như chưa có ai theo đuổi việc nghiên cứu này đến cùng. Thực tế chưa có tài liệu nào bàn sâu đến nghệ thuật Cồng chiêng của đồng bào nơi đây. Việc nghiên cứu nghệ thuật Cồng chiêng và nghệ thuật âm nhạc của đồng bào các dân tộc ở Quảng Nam và Đà Nẵng của nhạc sĩ Thái Nghĩa là mới mẻ và thực sự có đóng góp. Nhạc sĩ cũng bày tỏ mong muốn công trình của ông rồi đây sẽ không chỉ dừng lại ở những con số, nghĩa là chỉ mới thể hiện ở kết quả, mà phải biến kết quả thành hiệu quả, nghĩa là phải được áp dụng, được nhân rộng vào cuộc sống. Hiện nay, vì điều kiện không cho phép, việc nghiên cứu trên của nhạc sĩ đang tạm ngưng, nhưng những gì chúng tôi vừa được cung cấp chính là nguồn tư liệu mang tính tiền đề để giúp nhiều người có cơ sở nghiên cứu mở rộng về sau.

TRẦN THANH TÂN