Người nghèo được vay vốn không cần bảo đảm
Bộ Tài chính đang hoàn thành Dự thảo Nghị định của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Ngoài quy định cụ thể về đối tượng được vay vốn, mục đích vay vốn, điều đáng chú ý tại Dự thảo là các đối tượng được thụ hưởng chính sách trên không cần phải có biện pháp bảo đảm khi vay vốn tại ngân hàng.
Bộ Tài chính đang hoàn thành Dự thảo Nghị định của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Ngoài quy định cụ thể về đối tượng được vay vốn, mục đích vay vốn, điều đáng chú ý tại Dự thảo là các đối tượng được thụ hưởng chính sách trên không cần phải có biện pháp bảo đảm khi vay vốn tại ngân hàng.
3 nhóm đối tượng được vay vốn
Hiện nay, văn bản pháp lý điều chỉnh chương trình cho vay hộ nghèo là Nghị định 78/2002/NĐ-CP (4/10/2002). Đối tượng được vay vốn tại Nghị định này là hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia được UBND cấp xã xác nhận.
Tuy nhiên, thời gian qua, trong quá trình triển khai các cơ chế tín dụng chính sách xã hội, việc xác định hộ nghèo mỗi nơi làm mỗi cách. Bên cạnh đó, việc phân loại và xác định hộ nghèo cũng được phân cấp quản lý cho cơ sở nhưng thiếu cơ chế kiểm tra giám sát. Nhiều xã khoán cho cấp thôn thực hiện, dẫn đến việc xác định đối tượng thụ hưởng chưa thật chính xác.
Từ thực tế đó, Dự thảo Nghị định mới đã sắp xếp và loại bỏ các chương trình tín dụng chính sách có nội dung trùng lặp và tập trung vào 3 nhóm đối tượng được vay vốn là: Hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia; hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn; học sinh, sinh viên là con hộ nghèo.
Để được vay vốn, người vay phải đáp ứng các điều kiện sau: Có địa chỉ cư trú hợp pháp và phải có trong danh sách hộ nghèo được UBND cấp xã quyết định theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố, được Tổ tiết kiệm và Vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của UBND cấp xã; mục đích vay vốn của người vay phù hợp với qui định tại Nghị định này.
Tất nhiên, không phải vay vốn để sử dụng vào mục đích gì cũng được; theo Dự thảo, người vay chỉ có thể dùng vốn vay vào các mục đích sau: Đối với các đối tượng là hộ nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn sử dụng vốn vay để: mua sắm vật tư, thiết bị; giống cây trồng, vật nuôi; thanh toán các dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; góp vốn thực hiện các dự án hợp tác sản xuất, kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch và học tập; trang trải các chi phí để đi lao động có thời hạn tại nước ngoài.
Đối với học sinh, sinh viên là con hộ nghèo sử dụng vốn vay để mua sắm phương tiện học tập và các chi phí khác phục vụ cho việc học tập tại trường.
Không phải dùng biện pháp bảo đảm
Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay trực tiếp đối với người vay hoặc uỷ thác qua các tổ chức chính trị xã hội theo hợp đồng uỷ thác. Thời hạn cho vay được quy định căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của người vay và thời hạn thu hồi vốn của chương trình, dự án có tính đến khả năng trả nợ của người vay. ãi suất cho vay được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng và không thay đổi trong cả thời hạn vay vốn. Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 150% lãi suất khi cho vay.
Khi đến hạn thời hạn trả nợ, người vay có khả năng trả nợ nhưng không trả nợ thì Ngân hàng Chính sách xã hội chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng này sẽ kết hợp với chính quyền sở tại, các tổ chức chính trị xã hội nhận uỷ thác và các tổ tiết kiệm vay vốn có biện pháp thu hồi nợ. Đặc biệt, người vay khi vay vốn theo quy định của Nghị định này không phải áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Trong quá trình vay vốn, nếu xảy ra rủi ro mà vì thế người vay chưa trả được nợ đúng hạn thì Ngân hàng Chính sách sẽ có các biện pháp xử lý rủi ro. Theo Dự thảo Nghị định, rủi ro được xem xét xử lý bao gồm: thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra làm thiệt hại trực tiếp đến vốn, tài sản của người vay hoặc của dự án.
Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người vay hoặc có quyết định giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật mà không còn pháp nhân, không còn vốn, tài sản để trả nợ; người vay bị mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau thường xuyên, mắc bệnh tâm thần, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không nơi nương tựa, chết, mất tích hoặc bị tuyên bố là chết, mất tích.
Biện pháp xử lý rủi ro được xem xét áp dụng gồm có: Gia hạn nợ, khoanh nợ, xoá nợ (cả gốc và lãi). Trường hợp đối tượng được vay vốn đã vay vốn nhưng không sử dụng tiền vay đúng mục đích thì Ngân hàng chính sách xã hội phối hợp với UBND cấp xã và các cơ quan chức năng thu hồi nợ theo qui định...
Vân Thanh
