Người lính xe tăng 980 huyền thoại trong hồi ức và hiện tại

Tôi không biết bắt đầu về ông như thế nào, một vị tướng, một anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân hay một nhà thơ... Ông là Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, người sẽ ra mắt Chủ tịch Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” vào tối nay, tại Hà Nội.

Tôi không biết bắt đầu về ông như thế nào, một vị tướng, một anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân hay một nhà thơ... Đó là Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, người sẽ ra mắt Chủ tịch Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” vào tối nay, tại Hà Nội.

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng (ngoài cùng bên phải)
Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng (ngoài cùng bên phải)

“Hòa bình rồi, mình sẽ làm gì?”

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng sinh năm 1949, nhập ngũ năm 1966 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn gay go, quyết liệt và có nhiều hy sinh. Ông quê gốc xã Bình Ngọc, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, nơi địa đầu đất nước.

Những năm đầu vào lính bộ binh, anh lính trẻ thuộc Sư đoàn 308, Trung đoàn 88 đã tham gia đánh Quảng Trị, Khe Sanh, Đường 9 và chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Hồi đó, anh đã là Dũng sỹ diệt Mỹ và là gương sáng trong sư đoàn. Sau này anh được đào tạo và được giữ lại Trường Sỹ quan lục quân làm giảng viên. Một thời gian sau đó, thấy Tăng thiết giáp mới lạ nên anh muốn thử sức. Đầu năm 1972, sau một thời gian huấn luyện, anh làm cán bộ đại đội và một lần nữa lên đường vào chiến trường. Anh đặc biệt có khả năng nhạy bén về xác định quy luật chiến trường như xác định thời điểm tránh bom, tránh lầy...

Vào tới khu 5 thì đơn vị được lệnh dừng lại để chuẩn bị vào chiến trường Tây Nguyên. Và trận đánh Đoàn Sinh Hưởng mở màn là trận Đắc Pét năm 1974, (đây là một căn cứ liên hoàn biệt động quân của địch) và ta đã chiến thắng. Còn nhớ, đêm 30 Tết năm 1975, trên đường đi trinh sát, mỗi người lính được phát một cái kẹo Hải Châu và một điếu thuốc, mò mẫm đi trong đêm qua những vườn dưa của dân, ai cũng nhớ nhà cồn cào khi chuẩn bị bước vào trận chiến cuối cùng.

Và thành tích giúp Đoàn Sinh Hưởng được phong Anh hùng nằm trong chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3/1975) khi ông chỉ huy Đại đội 9 phối hợp với Đại đội Bộ binh 1 đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế (Buôn Ma Thuột); tham gia đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 23 của Ngụy, giải phóng Buôn Ma Thuột.

Tiếp đó, trong trận đánh chiếm thị xã Tuy Hòa (Phú Yên), Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy xe tăng M41 vừa thu được của địch bắn 9 quả đạn diệt một trận địa pháo 105mm, bắn chìm một tàu chiến, một xuồng chiến đấu. Ngày 29/4/1975, ông chỉ huy đại đội phối hợp với Bộ binh và Đặc công chốt tại Cầu Bông diệt và bắt toàn bộ đoàn xe M113 (22 chiếc) sau đó chỉ huy phân đội cùng các đơn vị bạn đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Có một điều đặc biệt, trong những ngày diễn ra trận tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, chiếc xe tăng 980 do Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy đã dẫn đầu mũi đột kích thọc sâu, tung hoành ngang dọc, tiến công vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23, quân đội Sài Gòn, rồi tiến ra sân bay Hòa Bình.

Ông cho biết: “Chúng tôi ém quân bí mật ở Chư Nga, rồi đến giờ xuất kích thì càn rừng mà lao vào thị xã. Trước đó, công binh ta đã sáng tạo nghĩ ra chiêu mở đường cho xe tăng bằng cách cưa dở dang mỗi cây một nửa để vẫn giữ được bí mật, nhưng khi xuất kích, xe tăng cứ ào ào đè cây, càn rừng đi tới. Vì xe tăng ta xuất hiện bất ngờ nên địch không kịp trở tay.

Chúng tôi lao thẳng tới Sở chỉ huy Sư đoàn 23, cùng Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 tiến công như vũ bão. Chính kíp xe của chúng tôi đã cùng quân của anh Việt - Trung đoàn 24 bắt sống tên Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Sư đoàn phó Sư đoàn 23 ngay tại đó. Nhưng, vào lúc đó kíp xe  của tôi có hai người bị thương là tôi và Nông Văn Vĩnh, pháo 2. Vĩnh bị đạn bắn gãy tay nên phải rời xe về tuyến sau. Còn tôi chỉ bị vào chân, băng bó xong lại cùng hai đồng chí còn lại là Phan Lưu Vinh và Mai Đình Mỹ tiếp tục chiến đấu đánh ra Ngã sáu. Chính tại đó, xe chúng tôi đã đứng bắn chi viện cho bộ binh xung phong. Bắn rất nhiều, nhân dân quanh đó thấy xe tăng ta bắn còn hò reo cổ vũ, vui lắm! Sau đó, chúng tôi tiếp tục phát triển sang khu vực sân bay Hòa Bình”.

Và chiếc xe tăng đó đã theo Đoàn Sinh Hưởng cùng đoàn quân thắng như chẻ tre tới đầu cầu Đà Rằng - Tuy Hòa. Tại đây, sau khi xe 980 diệt 4 khẩu pháo án ngữ lối vào thị xã Tuy Hòa thì xe bị trục trặc nên phải để lại. Về sau này, TP.Buôn Ma Thuột, khi dựng tượng đài chiến thắng ở Ngã sáu, đã lấy xe tăng 980 làm biểu tượng cho khí thế tiến công như chẻ tre của quân đội ta, muốn lưu danh tinh thần chung của quân dân ta tham gia trận tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột.

Tôi hỏi ông, ngày cuối cùng của chiến tranh với ông thế nào?. Ông nói: “Sau khi chiếm được sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu địch, chúng tôi ôm chầm lấy nhau hò reo phấn khởi, nước mắt chảy quanh vì vui sướng. Sau đó, tôi ngồi một mình trên xe tăng suy nghĩ rất trầm tư. Tôi nghĩ về đồng đội đã hy sinh, về bố mẹ, anh chị em ở quê hương. Và thú thực, việc tôi nghĩ nhiều nhất là sau này mình sẽ làm gì. Tôi không chút mảy may nghĩ mình sẽ ở lại quân đội. Ước mơ trước mắt của tôi lúc đó là được về thăm bố mẹ với hai gói kẹo làm quà và búp bê, cặp tóc tặng người yêu, nếu cô ấy còn chờ đợi (và người bạn gái đó sau này đã trở thành bạn đời của ông - PV)”.

Nhưng rồi sự nghiệp nhà binh đã lựa chọn ông khi ông vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1975, khi ông mới 26 tuổi, mang quân hàm Thiếu úy, Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273, Quân đoàn 3. Sau này, ông dành nhiều thời gian cho nghiên cứu khoa học quân sự và có bằng Tiến sỹ. Và ông trở thành Tư lệnh Tăng thiết giáp rồi Tư Lệnh Quân khu 4 cho tới khi trở về đời thường năm 2009.

“Hoa mua tím Truông Bồn”

Những năm gần đây, ông Hưởng được biết tới nhiều với vai trò một ông bầu, một vị tướng bóng đá khi đưa đội bóng Quân khu 4 từ đội bóng phong trào trở thành chuyên nghiệp và xếp thứ hạng cao. Và còn có một vị tướng Đoàn Sinh Hưởng của thơ và âm nhạc khi ông đã từng được trao Huy chương Vì sự nghiệp âm nhạc Việt Nam. Ông nói, ông đã làm khoảng vài trăm bài thơ và có 50 bài đã được phổ nhạc như: “Mãi mãi tuổi thanh xuân”, “Tình yêu lính tăng”, “Hoa tím bên đường”...

Trong số những bài thơ ông sáng tác từ những cảm xúc ào ạt thổi về từ quá khứ, từ những năm tháng bi tráng, hào hùng của dân tộc, bài thơ “Hoa mua tím Truông Bồn” là kí ức của ông về một cô thanh niên xung phong với tình yêu sôi nổi của tuổi trẻ. Còn gì đau đớn hơn, hoang vắng hơn khi ông về nơi cũ mà người con gái ấy đã mãi mãi nằm lại nơi xa thẳm, khi chỉ có hoa mua tím bạt ngàn là còn lại...

Và ông đã ngồi lại đúng nơi mà hai người đã chia tay lần cuối để viết: “Anh trở lại Truông Bồn/ Tìm lại kỉ niệm xưa/ Nơi gặp em ngày ấy/ Tím một trời hoa mua/... Màu hoa và muối mặn/ Kỷ niệm xưa không về...”.  Sở dĩ ông nói tới màu hoa và muối mặn là bởi, ngày ấy, người con gái trong những khoảng lặng của chiến tranh đã hỏi ông: “Sao mồ hôi anh mặn thế?” - ông trả lời cô - “đó là nước hoa của lính”... Về sau này, nhà văn quân đội Nguyễn Thị Hồng đã làm một vở kịch ngắn từ câu chuyện đã trở thành ca khúc của ông.

Và bài thơ, bài hát “Hương bồ kết em tôi” ông viết về 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc cũng là một cảm xúc rất thật của người lính khi từng đi qua những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh: “Anh về đây sau ngày chiến thắng/ Hết đạn bom xanh lại con đường/ Không gặp lại em người con gái/ Vẫn ngát rừng - hương bồ kết em tôi”.

Tới đây, vào dịp tháng 5, chương trình “Tác phẩm mới” sẽ giới thiệu một ca khúc mới của ông viết về Bác Hồ: “Kim Liên ơi, thương bến Sài Gòn” là một tứ thơ rất lạ và tình cảm ông lấy cảm xúc từ tác phẩm “Búp sen xanh”...

Còn nhớ, năm 2009, khi Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” về thăm chiến trường xưa trên con đường Trường Sơn huyền thoại. Chặng đầu tiên mà đoàn chúng tôi dừng chân trên Đường Trường Sơn là đến thăm Trung đoàn xe tăng 206 - Quân khu 4 (Nghĩa Đàn, Nghệ An). Tại đây, mẹ Doãn Ngọc Trâm và chúng tôi đã gặp Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, người đã sáng tác bài thơ “Mãi mãi tuổi thanh xuân” sau khi ông đọc liền một mạch cuốn nhật kí Đặng Thùy Trâm.

Hồi ở chiến trường, ông đã nghe nhiều về Đặng Thùy Trâm nhưng ông không ngờ có ngày lại được đọc nhật ký của chị và có ngày gặp mẹ Doãn Ngọc Trâm. Và có ngày duyên kì ngộ khi ông vào vai trò mới là Chủ tịch Quỹ “Mãi mãi tuổi 20”, nhiệm kì năm 2011-2015, thay Trung tướng - Anh hùng lao động - Nhà văn Hữu Ước để tiếp tục tri ân đồng đội và thế hệ trẻ với những ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn...

 “Gặp gỡ tháng 4”

Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Đất nước (30/4/1975 - 30/4/2011), Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” tổ chức chương trình “Gặp gỡ tháng 4” vào tối nay - 27/4, tại Nhà văn hóa Học sinh, Sinh viên Hà Nội.

Đây là chương trình giao lưu với các Anh hùng Quân đội, các nhân chứng lịch sử, các đại biểu đại diện Thế hệ trẻ ngày nay đặc biệt là các đại biểu đã từng được nhận Giải thưởng “Mãi mãi tuổi 20”. Đó là các đồng chí Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Sinh Hưởng, Anh hùng Lao động Nguyễn Hữu Ước.

Đó là các cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước như đồng chí Trưởng xe 980-843-390, đồng chí Nguyễn Dũng - sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội, chiến sỹ E95 đã tham gia chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị - 81 ngày đêm 1972, tham gia chiến đấu mở màn chiến dịch Buôn Ma Thuột 10/3/1975, tham gia chiến dịch Xuân Lộc và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30/4/1975...

Nguyệt Thương