Người duy nhất sống sót trong vụ thảm sát ở đình Lâm Động năm 1949- ông Nguyễn Văn Kiểm:
Ông Nguyễn Văn Kiểm, thôn Giáp Động, xã Hoa Động (huyện Thuỷ Nguyên) năm nay 76 tuổi, tai có phần “ nặng”, bước đi chậm chạp. Nhưng khi nghe tôi hỏi về sự kiện thực dân Pháp thảm sát dân làng tại đình Lâm Động, ông nghẹn ngào, tay run run mở cuốn Lịch thế kỷ 20, chỉ cho tôi xem nét mực khoanh tròn ngày 13-2-1949 ( tức ngày 16 tháng Giêng năm Kỷ Sửu). Và dòng hồi ức đau thương cứ thế tuôn trào.
"Tháng 12-1948, tôi được điều động vào đội du kích tập trung của xã Hoàng Hoa ( tức các xã Hoàng Động, Lâm Động, Hoa Động...hiện nay) khi mới 18 tuổi. Trung đội du kích tập trung của chúng tôi có 3 tiểu đội, tôi ở tiểu đội 1 do đồng chí Đồng Xuân Băng làm tiểu đội trưởng. Hoạt động trong lòng địch, trang bị cho các đội du kích rất thô sơ, chủ yếu là kiếm, mã tấu, một vài khẩu súng trường... Thời gian này, quân Pháp đóng đồn án ngữ ngay tại khu vực cầu Bính. Có 3 tên lính Âu Phi thường xuyên đi “ đánh quả lẻ” vào các làng gần đó để cướp bóc, hãm hiếp đàn bà, con gái.
Cuối buổi chiều ngày 14 tháng Giêng, nhân dân báo cho du kích biết 3 tên lính Pháp lại vào làng giở trò cướp bóc. Lập tức, trung đội du kích phối hợp với một số chiến sĩ của Đại đội Lê Lợi bất ngờ phục kích, tấn công. Hai tên bỏ chạy, nhảy xuống sông, chết đuối. Tên còn lại bị ta bắt sống, bộ đội Lê Lợi giải ngay về vùng tự do để khai thác. Trước đòn đau đó, bọn Pháp cay cú, lồng lộn, thực hiện ngay trận càn trả thù, nhằm tiêu diệt phong trào du kích. Khoảng 4 giờ sáng ngày
Tiểu đội 1 của chúng tôi lúc này đang tập trung tại nhà một đồng chí ở thôn Lâm ( nay là xã Lâm Động). Tôi nhận ca gác về gần sáng. Khoảng hơn 4 giờ, tôi lơ mơ nghe thấy tiếng ca nô chạy xịnh xịch từ khu bến đò Lâm vọng lại. Im lặng một lúc, tôi lại nghe rõ 3 tiếng súng cạc-bin: “ boóc-boóc-boóc”. “ Thôi chết, Pháp đi càn rồi”. Tôi vội chạy vào báo cáo đồng chí Băng. Cả tiểu đội bật dậy triển khai đội hình ra rìa làng. Nhưng không ngờ, địch quá đông, tiến công từ nhiều mũi, dồn vào thôn Lâm Động. Trong khi đó tiểu đội tôi chỉ có khoảng chục người. Đồng chí Băng ra lệnh “ Tiểu đội phân tán xuống hầm. Đồng chí Tửu (người thôn Lâm Động) thuộc đường nên kéo tôi chạy xuống một căn hầm đào sẵn. Không ngờ, căn hầm đã bị ngập nước, không thể trú được. Chúng tôi lại chạy đến núp trong lỗ hổng một đống gạch của một gia đình gần đó. Ngồi yên được 1 lúc, khoảng 9 giờ sáng, bọn Pháp kéo đến. Chúng dỡ gạch, lôi chúng tôi ra và đánh ngay tại trận. Thằng tây trắng túm lấy đầu tôi, dùng đầu gối hắn thúc mạnh vào ngực tôi, làm xương ngực bên trái bị gẫy hết”.
Vừa nói, ông Kiểm vừa vạch áo cho tôi xem phần ngực trái lép kẹp. “Thằng tây quát: “du kích nấp ở đâu, súng chúng mày để đâu”. Chúng tôi một mực nói: “không biết”. Chúng vừa đánh, vừa giải chúng tôi ra chợ Lâm ( ngay cạnh đình Lâm Động), lúc này trung tâm chỉ huy càn của chúng đã đặt tại đó. Đến đây, chúng tách tôi và đồng chí Tửu mỗi người một nơi, rồi chúng lại lôi tôi vào đình Lâm Động. Sau đó, chúng kéo tôi đến căn hầm ngập nước lúc đầu chúng tôi định trú. Thằng tây bật lửa chui xuống hầm, một lúc nó lôi anh Tửu lên. Lúc này, anh đã bị chết ngạt. Tôi cũng thấy lạ, không biết anh trốn ra đây từ lúc nào nữa. Bọn Tây lại ấn tôi xuống hầm nước. Do bản năng, tôi vùng vẫy rất mạnh nên chúng bỏ ý định dìm tôi xuống hầm nước. Chúng lại dong tôi về đình Lâm. Lúc này tôi mới nhìn thấy có rất nhiều bà con các thôn bị bắt về, chủ yếu là thanh niên, ông già. Tôi thấy cả mấy người làm nghề thợ may cũng bị bắt về đó. Có cả 2 bố con ông Giản thợ may trong làng cũng bị bắt, mặt mũi bị đánh sưng húp ( Sau tôi mới biết cả hai bố con đều bị sát hại). Chúng dồn hết những người bị bắt vào góc sân đình.
Tầm khoảng hơn 10 giờ trưa, hai thằng Pháp xông vào lôi ông Giản và ông Lạch ra ngoài. Mọi người không biết họ bị giải đi đâu, nhưng một lúc sau nghe thấy 2 tiếng súng nổ. Rồi cứ thế, chúng lại xông vào, lần lượt lôi những người khác đi. Bấy nhiều người đi, bấy nhiêu tiếng súng nổ. Đến lượt tôi, người đã vơi hẳn, đã gần đến người cuối cùng. Chúng cứ dong đi, tôi cũng chẳng kịp nghĩ gì, cứ bị lôi đi xềnh xệch. Chúng dẫn tôi ra cái quán chuyên để bán lợn con cạnh đình. Lúc đó tôi mới thấy 2 anh thanh niên bị treo ngược lên. Tôi thấy hai anh kêu to: “ối anh Thiệp, anh Hợp ơi, cứu em với” . Thì ra hai anh người làng Lâm, đang gọi tên hai thằng ác ôn vốn người cùng làng. Nhưng hai thằng ác ôn đó vẫn dửng dưng đấm vào ngực, vào mặt hai anh “hự, hự”, vừa đánh, vừa chửi.
Lúc đó, thằng Tây xồm (chúng tôi thường gọi là quản xồm)ra lệnh hạ hai anh thanh niên xuống, dẫn đi. Chúng buộc dây vào một tay tôi, kéo lên. Thằng quản xồm nói giọng lơ lớ tiếng Việt: “Mày sắp chết đến nơi rồi. Nếu mày nói ra du kích ở đâu, súng giấu ở đâu, tao sẽ nói với quan hai tha chết cho mày”. Tôi một mực kêu “không biết”. Đúng lúc đó, dây kéo tôi bị đứt, có vẻ như địch chán trò tra tấn. Bọn Tây lại dong tôi ra cổng chợ, lúc đó tôi chợt nghĩ: “ chắc chúng nhốt mình vào chùa Lâm đây”. Không ngờ, chúng dẫn tôi thẳng ra đình Yến ( nay là địa điểm xây dựng trường Tiểu học Hoa Động). Thằng Tây dùng tay trái ngoặc lấy tôi, một tay nó vòng ra sau, rút dao găm đánh “ cạnh” 1 tiếng. Nó lại gằn dọng: “biết Việt Minh ở đâu không”. Tôi chưa kịp trả lời hết câu “ không biết”, đã thấy nó vung tay. Tất cả 11 nhát dao bổ vào người tôi lúc đó, 3 nhát ở ngực, 3 nhát ở lưng, ở thái dương, ở cổ, ở mông..Máu phun ra tứ bề, tôi gục xuống tại chỗ.
Kể đến đây, ông Kiểm ngừng lại: “ Đúng là số tôi không chết. Tất cả các vết đâm đều chí tử, hoặc nếu nó bắn cũng “hết số”. Ngờ đâu, ông trời vẫn cho tôi sống để trở thành nhân chứng duy nhất cho vụ thảm sát này”.
“Chắc chúng tưởng bác đã chết”-tôi hỏi. “ Đúng như vậy, ông chỉ vào cổ, vết sẹo chạy dài kéo lệch cả khuôn mặt-những nhát vào đây thì người khác chắc không qua khỏi. Khoảng tầm cuối giờ chiều, tôi chợt tỉnh dậy, thấy khắp người mỏi mệt. Hai tay vẫn bị trói, tôi vừa mở mắt, cố giở mình, đã thấy hai thắng
Hai ngày không ăn, không uống, 11 nhát dao chí tử trên người, tôi từ cõi chết trở về. Sau khi được người làng cứu chữa, cách mạng tổ chức đưa tôi đi điều dưỡng, học văn hoá tại chiến khu Đông Triều. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, tôi tiếp tục tham gia công tác ở xã. Đến năm 1984 mới nghỉ, hưởng chế độ thương binh hạng 2/4. Bao nhiêu năm qua, tôi vẫn thường đến thắp hương, đứng lặng trước ao đình Lâm Động. Ngôi đình nay còn nguyên nét cổ, ao không kín bèo như xưa. Giữa ao, sừng sững tấm bia tưởng niệm sự kiện năm 1949, một mặt ghi chữ “ 108”, một mặt ghi dòng chữ: “ Đời đời ghi sâu căm thù đế quốc”. Mỗi lần như vậy, bao nhiêu khuôn mặt dân làng lại hiện lên, những người vô tội đã cùng ra đi trong một ngày thảm khốc.
Ông Nguyễn Văn Kiểm lặng lẽ, rồi như tự nói với mình: “Tôi còn sống là nhờ may mắn. Ông trời cho tôi trở thành người cuối cùng trong 109 người bị bắt trong trận càn đó sống sót, để làm nhân chứng sống cho tội ác “trời không dung, đất không tha” của thực dân Pháp. Tôi không làm nên những chiến công gì đáng kể. Tôi kể lại câu chuyện này, chỉ mong một điều, các thế hệ hôm nay hiểu hơn về sự mất mát, đau thương mà quê hương phải gánh chịu. Đó là một phần cái giá phải trả cho ngày hoà bình, độc lập, tự do của đất nước. Nhớ quá khứ, để hướng về tương lai, biết ơn Đảng, trân trọng hơn giá trị của cuộc sống do Đảng mang lại, để cùng nhau sống tốt đẹp hơn trong cuộc sống hôm nay”./.