Người đi gỡ những nút thắt cuối cùng của công lý
Hơn 20 năm gắn bó với công tác thi hành án dân sự, ông Lê Viết Tám - Phó Trưởng Thi hành án dân sự (THADS) tỉnh Thanh Hóa đã trải qua không ít vụ việc phức tạp, những đêm mất ngủ và áp lực nghề nghiệp tưởng chừng không thể vượt qua. Với ông, THADS không chỉ là thực thi pháp luật mà còn là hành trình đưa công lý từ trên giấy bước vào cuộc sống bằng bản lĩnh, sự kiên trì và lòng thấu cảm đối với con người.

Người đứng giữa mọi xung đột
Đã nhiều năm trôi qua nhưng mỗi khi nhắc đến vụ việc thi hành án liên quan khoản nợ hơn 20 tỷ đồng giữa hai doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, ông Lê Viết Tám vẫn nhớ như in cảm giác bất an từng đeo bám mình suốt gần một thập kỷ.
Đó là những đêm giật mình thức giấc giữa khuya. Là những ngày đến cơ quan với tâm trạng nặng trĩu. Là cảm giác luôn thường trực về một ranh giới mong manh giữa trách nhiệm nghề nghiệp và những hệ lụy pháp lý có thể xảy ra nếu chỉ một quyết định được đưa ra không chính xác.
“Đêm nào tôi cũng giật mình thức giấc, tự hỏi liệu một bước đi sai có thể xóa sạch toàn bộ sự nghiệp và đẩy bản thân vào vòng lao lý hay không”, ông Tám nhớ lại.
Đối với nhiều người, THADS thường được hình dung bằng những cuộc cưỡng chế, những quyết định kê biên tài sản hay những biên bản làm việc dày đặc điều khoản pháp luật. Nhưng với những người trong nghề như ông Tám, đó chỉ là phần nổi của công việc.
Phía sau mỗi quyết định là những mâu thuẫn đã được đẩy đến giới hạn cuối cùng. Một bên là người được thi hành án đang mòn mỏi chờ đợi quyền lợi hợp pháp của mình được bảo vệ. Một bên là người phải thi hành án tìm mọi cách trì hoãn hoặc hạn chế việc xử lý tài sản. Và ở giữa là chấp hành viên, người không tạo ra bản án, cũng không hưởng lợi từ việc thi hành án, nhưng lại phải trực tiếp đối diện với mọi áp lực khi bản án được đưa vào cuộc sống.
Sinh ra trong một gia đình nông dân ở Thanh Hóa, ngay từ những năm học cấp hai, ông Lê Viết Tám đã đặc biệt yêu thích học luật, niềm yêu thích ấy theo ông đến giảng đường Trường Đại học Luật Hà Nội.
Những năm tháng học tập tại đây đã giúp ông nhận thức rõ hơn về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Theo ông, pháp luật không đơn thuần là những điều khoản, quy định khô cứng mà là công cụ để bảo vệ công bằng, duy trì trật tự xã hội và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.
Thế nhưng chỉ đến khi thực tập tại cơ quan THADS, ông mới thực sự hiểu được ý nghĩa của nghề nghiệp mình lựa chọn.
“Nếu tòa án là nơi phán quyết ai đúng, ai sai thì cơ quan thi hành án chính là nơi đưa những phán quyết đó từ trên giấy bước ra đời thực”, ông Tám chia sẻ.
Từ suy nghĩ ấy, chàng cử nhân luật trẻ quyết định lựa chọn một công việc vốn được xem là nhiều áp lực và ít hào quang.
Tháng 1/2004, ông bắt đầu sự nghiệp với vị trí chuyên viên tập sự tại Đội THADS huyện Mường Lát cũ. Từ vùng biên viễn xa xôi ấy, ông từng bước trưởng thành qua nhiều vị trí công tác khác nhau, từ chuyên viên, thẩm tra viên, chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp đến Trưởng phòng Nghiệp vụ và tổ chức THADS tỉnh Thanh Hóa. Tháng 4/2026, ông Tám được bổ nhiệm giữ chức Phó Trưởng THADS tỉnh Thanh Hóa.
Hơn hai thập kỷ gắn bó với nghề, ông từng có những cơ hội công việc khác thuận lợi hơn, nhưng cuối cùng vẫn lựa chọn ở lại.
Bởi theo ông, niềm vui lớn nhất của người làm công tác THADS không nằm ở những con số thống kê cuối năm hay những bằng khen nhận được, mà là khoảnh khắc người dân nhận lại được tài sản, quyền lợi hợp pháp của mình sau nhiều năm theo đuổi kiện tụng. Đó là khi những mâu thuẫn kéo dài được tháo gỡ, khi niềm tin vào pháp luật được củng cố và khi công lý thực sự hiện diện trong đời sống.
Tuy nhiên, để có được những khoảnh khắc ấy, người chấp hành viên phải đi qua rất nhiều áp lực mà người ngoài ngành ít khi nhìn thấy.
“Người ta thường nghĩ tòa án xử rồi thì cứ thi hành thôi. Thực tế hoàn toàn không đơn giản như vậy”, ông Tám nói.
Sau khi bản án có hiệu lực, chấp hành viên phải xác minh người phải thi hành án có tài sản hay không, tài sản ở đâu, thuộc sở hữu của ai, có đang thế chấp hay tranh chấp hay không, có thuộc diện được miễn trừ xử lý hay không.
Có những bản án tuyên rất rõ nhưng người phải thi hành án đã không còn tài sản hoặc đã tìm cách tẩu tán từ trước. Có những tài sản liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, có những trường hợp phát sinh tranh chấp quyền sở hữu sau khi đã kê biên.
Mỗi tình huống đều là một bài toán pháp lý phức tạp, nhưng áp lực lớn nhất chưa dừng lại ở đó. Đằng sau mỗi tài sản bị kê biên là một gia đình, đằng sau mỗi quyết định xử lý tài sản là cuộc sống của những con người cụ thể: có người già; có trẻ em; có những gia đình đang ở trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
“Có những thời điểm tôi nghĩ điều khó nhất của nghề không phải là áp dụng pháp luật, mà là làm sao vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo đảm tính nhân văn và ổn định xã hội”, ông Tám chia sẻ.
Bởi một quyết định sai không chỉ gây thiệt hại cho đương sự mà còn có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trách nhiệm kỷ luật hoặc thậm chí là trách nhiệm hình sự đối với người thực thi công vụ.
Chính vì vậy, người chấp hành viên luôn phải đưa ra quyết định trong trạng thái chịu áp lực rất lớn. Nhiều khi khó nhất không phải là thi hành một bản án, mà là giữ được sự khách quan, bình tĩnh và trách nhiệm nghề nghiệp trong suốt quá trình thi hành án.

Gần 10 năm mang theo một hồ sơ
Trong hơn 20 năm công tác, ông Lê Viết Tám đã xử lý hàng trăm vụ việc lớn nhỏ khác nhau. Nhưng nếu hỏi hồ sơ nào khiến ông nhớ nhất, trăn trở nhất và cũng để lại nhiều bài học nhất thì đó chính là vụ thi hành án liên quan đến khoản nợ hơn 20 tỷ đồng giữa hai doanh nghiệp theo quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thời điểm đó.
Đến nay, khi mọi việc đã khép lại, ông vẫn gọi đó là vụ việc đã lấy đi nhiều năm tuổi nghề nhất của mình.
Vụ tranh chấp kinh doanh thương mại ấy kéo dài hơn 10 năm. Riêng quá trình thi hành án cũng kéo dài gần một thập kỷ.
“Đó không chỉ là một vụ án kinh doanh thương mại đơn thuần. Với tôi, đó là một cuộc chiến cân não thực sự”, ông nói.
Những ngày đầu tiếp nhận hồ sơ, ông nghĩ rằng đây là một vụ việc phức tạp nhưng rồi sẽ có hướng giải quyết. Nhưng càng đi sâu, ông càng nhận ra mình đang bước vào một “mê cung” pháp lý với vô số nút thắt.
Các cuộc họp liên ngành liên tục diễn ra, các phương án xử lý tài sản được đưa ra rồi lại phải xem xét lại. Có những đề xuất của chấp hành viên không nhận được sự đồng thuận, có những quan điểm pháp lý khác nhau khiến vụ việc nhiều lần rơi vào trạng thái giằng co.
Trong tất cả những tranh luận ấy, ông Tám hiểu rằng dù đúng hay sai thì người chịu trách nhiệm cuối cùng vẫn là chấp hành viên. Cảm giác ấy đeo bám ông suốt nhiều năm.
Ông nhớ rất rõ những tháng ngày mà hồ sơ vụ việc gần như chiếm trọn mọi suy nghĩ. Ban ngày nghiên cứu hồ sơ, ban đêm tiếp tục suy nghĩ về hồ sơ.
Có những thời điểm hàng loạt đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị vượt cấp liên tục xuất hiện khiến quá trình thi hành án phải tạm dừng hoặc xem xét lại.
Nhiều quy định pháp luật bị các bên khai thác triệt để nhằm kéo dài thời gian xử lý. Các văn bản phát sinh chồng chéo, những quan điểm trái chiều xuất hiện. Có lúc ông cảm thấy mình như đang đứng giữa ngã ba đường mà không biết nên tiến hay lùi.
Có thời điểm, ông Tám thừa nhận bản thân gần như rơi vào trạng thái bế tắc.
“Bản thân tôi từng có những lúc chỉ muốn rũ bỏ tất cả để tìm chữ bình yên trong cuộc sống đời thường. Nhưng nghĩ đến trách nhiệm nghề nghiệp, nghĩ đến những gì mình đã theo đuổi suốt nhiều năm, tôi lại không cho phép mình dừng lại”, ông tâm sự.
Thế rồi giữa những tháng ngày tưởng như không tìm thấy lối ra ấy, ông cùng đồng nghiệp vẫn tiếp tục đi tìm lời giải.
Ông trực tiếp nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ vụ việc, tìm hiểu các điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Được sự hỗ trợ, hướng dẫn của Tổng cục Thi hành án dân sự thời điểm đó, trao đổi với các cơ quan chuyên môn và những đơn vị liên quan.
Một hướng đi mới xuất hiện khi ông phát hiện người phải thi hành án trong vụ việc mình đang xử lý đồng thời lại là người được thi hành án trong một vụ việc khác tại Hải Phòng. Thông tin ấy mở ra cơ hội tháo gỡ nút thắt kéo dài nhiều năm.
Sau rất nhiều nỗ lực, tài sản được kê biên, bán đấu giá thành công, thu về hơn 14 tỷ đồng để thi hành án.
Tưởng như mọi việc đã khép lại, nhưng thực tế lại không đơn giản như vậy. Các bên vẫn tiếp tục tranh cãi, những đơn thư vẫn tiếp tục xuất hiện, áp lực đối với người chấp hành viên vẫn chưa kết thúc.
Đúng vào thời điểm ấy, cơ quan THADS tỉnh Thanh Hóa có sự thay đổi về người đứng đầu. Ông Trần Văn Dũng được điều động về giữ chức Trưởng THADS tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, ông Dũng lựa chọn hướng tiếp cận khác: trực tiếp đối thoại, gặp gỡ các bên liên quan, phân tích những hệ lụy của cuộc tranh chấp kéo dài và kiên trì tìm kiếm tiếng nói chung.
Từng bước một, những cuộc đối thoại được mở ra, những cuộc gặp kéo dài hàng giờ đồng hồ, những lần trao đổi tưởng như không tìm được tiếng nói chung. Nhưng rồi bằng sự kiên trì, các bên dần chấp nhận ngồi lại với nhau.
Họ bắt đầu lắng nghe nhau, bắt đầu nhìn thấy lợi ích của việc khép lại cuộc tranh chấp. Và điều mà gần 10 năm trước không ai nghĩ tới đã xảy ra, các bên đạt được thỏa thuận, vụ việc được giải quyết bằng sự đồng thuận.
Không còn những lá đơn, không còn những cuộc tranh cãi bất tận, không còn cảm giác đối đầu kéo dài, doanh nghiệp được giải phóng khỏi “vòng xoáy” tranh chấp. Người được thi hành án nhận được quyền lợi của mình, người phải thi hành án cũng tìm được lối thoát cho những áp lực kéo dài nhiều năm.
Còn với ông Tám, đó là khoảnh khắc ông cảm thấy nhẹ nhõm nhất trong nhiều năm làm nghề.
“Trong nghề luật, đỉnh cao của việc giải quyết tranh chấp không phải là một bản án thắng thua nghiệt ngã, mà là sự hòa giải trong danh dự và thượng tôn pháp luật”, ông đúc kết.

Sau mỗi hồ sơ là một phận người
Sau hơn 20 năm gắn bó với ngành THADS, điều đọng lại sâu sắc nhất trong ông Lê Viết Tám không phải là số lượng vụ việc đã giải quyết hay số tiền đã thi hành được. Mà là những con người ông từng gặp, những người đã dành nhiều năm đi tìm công lý, những người rơi vào cảnh nợ nần, phá sản.
Những gia đình mà mâu thuẫn đã âm ỉ từ rất lâu trước khi hồ sơ được chuyển đến cơ quan thi hành án.
“Có những trường hợp khi tiếp xúc mới hiểu được vì sao họ chậm thi hành án, vì sao họ phản ứng. Nếu chỉ nhìn vào hồ sơ thì sẽ không thể thấy hết được hoàn cảnh của họ”, ông Tám nói.
Bởi vậy, trong công việc, ông luôn lựa chọn cách lắng nghe trước khi giải thích. Lắng nghe để hiểu hoàn cảnh, lắng nghe để hiểu nguyên nhân của sự chống đối và lắng nghe để tìm ra phương án phù hợp nhất trong khuôn khổ pháp luật. Nhiều vụ việc nhờ vậy đã được giải quyết bằng sự tự nguyện thay vì cưỡng chế.
Theo ông Tám, thành công lớn nhất của một chấp hành viên không phải là tổ chức được một cuộc cưỡng chế đúng quy trình, mà là thuyết phục được người dân tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình.
Bởi khi đó, không chỉ bản án được thi hành mà những tổn thương xã hội cũng được giảm đi rất nhiều.
Ông Trần Văn Dũng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng THADS tỉnh Thanh Hóa cho biết, ông đã biết và theo dõi quá trình công tác của đồng chí Lê Viết Tám từ những năm ông còn công tác tại Tổng cục Thi hành án dân sự (nay là Cục Quản lý Thi hành án dân sự).
Theo ông Dũng, điều khiến ông ấn tượng ở đồng chí Tám là nền tảng chuyên môn vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao và sự quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ.
“Trong quá trình chỉ đạo nghiệp vụ cũng như tổ chức thi hành án, đồng chí Tám là người không ngại va chạm, dám chịu trách nhiệm. Ở những vụ việc lớn, phức tạp, vai trò tham mưu của đồng chí luôn rất rõ nét. Những ý kiến tham mưu đều được nghiên cứu kỹ, khách quan và đặt lợi ích chung lên trên hết”, ông Dũng nhận xét.
Không chỉ được đánh giá cao về chuyên môn, ông Tám còn là người sống chan hòa, luôn đồng hành, chia sẻ với đồng nghiệp.
“Dù ở cương vị nào, đồng chí Tám cũng luôn sẵn sàng hỗ trợ, trao đổi nghiệp vụ với anh em. Tôi đánh giá đây là cán bộ có bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm với công việc”, ông Dũng khẳng định.
Hơn 20 năm kể từ ngày bước chân vào ngành THADS, ông Lê Viết Tám vẫn tiếp tục công việc của mình như hàng nghìn chấp hành viên khác trên cả nước. Không ồn ào, không nhiều hào quang, nhưng phía sau những tập hồ sơ dày cộp, phía sau những cuộc đối thoại kéo dài và những đêm trăn trở ấy là nỗ lực đưa những phán quyết của pháp luật trở thành hiện thực.
Bởi sau mỗi bản án là công lý và sau mỗi hồ sơ, luôn là những phận người.