Người đàn bà hai mươi ba năm “khát sống”

Những ngày tháng trong Trung tâm Bảo trợ xã hội, chị Hoạt cô đơn, trống trải vô bờ bến. Nước mắt chị lại trào ra, không thể kìm nén được nữa. Chị phải khóc cho thân phận bất hạnh, khóc cho cái số phận trớ trêu đang tâm cướp đi hạnh phúc đang đơm hoa, nở trái với chị.

“Chị Hoạt ơi, có người vào thăm chị này…” tiếng gọi vừa dứt đôi chân chị muốn chạy ngay ra cửa, nhưng  không được nữa. Chị đành cố ngóng cổ ra xem ai là người vào thăm mình. Những ngày tháng trong Trung tâm Bảo trợ xã hội khiến chị cô đơn, trống trải vô bờ bến. Nước mắt chị lại trào ra, không thể kìm nén được nữa. Chị phải khóc cho thân phận bất hạnh, khóc cho cái số phận trớ trêu đang tâm cướp đi hạnh phúc đang đơm hoa, nở trái với chị.

Sổ tay sáng tác của Đào Hồng Hoạt
Sổ tay sáng tác của Đào Hồng Hoạt

Cú ngã định mệnh

Chị lật giở từng trang vở nhật ký, tìm tấm ảnh duy nhất còn sót lại của thời con gái đôi mươi cho chúng tôi xem. Giọng chị như lạc hẳn đi: “Nếu ngày ấy mình không ngã thì bây giờ mình đã làm cô giáo đứng trên bục giảng rồi”.

Buồn xa xăm, nhìn ra sân của khu Trung tâm Bảo trợ xã hội 2 (thôn Phù Yên, xã Viên An, Ứng Hoà, Hà Nội) suốt ngày kín cổng cao tường, đôi mắt chị nhòa dần đi khi kể về một ký ức buồn đến nao lòng khách đến thăm.

Người phụ nữ có khuôn mặt khắc khổ ấy sinh năm 1967, trong một gia đình thuần nông nghèo, đông anh em, ở xã Khai Thái, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tuổi thơ đã từng chăn trâu cắt cỏ, thả diều trên những triền đê, rồi đằm mình vào con sông Hồng mát rượi. Nhiều lúc nằm trên vạt cỏ ngắm nhìn lên bầu trời và ước cho mình có một tương lai tươi sáng, một cuộc sống mình bình yên.

Những buổi đến lớp là những ngày tháng còn đọng lại trong ký ức nhiều nhất của cuộc đời chị. Lúc đó chị đã mơ mình được như cô giáo mình. Mà làm cô giáo thích thật, được mặc áo dài, được đứng lớp giảng cho học sinh nghe, được học trò dành tặng cho những đóa hoa tươi thắm.

Rồi chị cũng thi vào trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, trở thành sinh viên, nhờ hoạt động đoàn năng nổ nên chị được bầu làm Bí thư chi đoàn. Ngày tháng sinh viên sao mà vui và nhiều kỷ niệm đến thế. Chị tự mình kiếm tiền bằng cách đan khăn len, thêu thùa may vá bán cho những sinh viên có điều kiện. Được trời phú cho đôi tay khéo léo và đôi mắt thẩm mỹ nên những chiếc khăn chị làm ra đến đâu hết đến đó. Nhiều khi làm không kịp để bán.

Ba năm học trôi qua, ngày thực tập cũng đã đến, chị về Hà Nam dạy thử, chuẩn bị cho ngày ra trường. Không ngờ bị ngã xe đạp. Vết thương ở mắt cá chân của chị mỗi ngày thêm nặng. Chân tay cứ thế co rúm lại. Các bác sĩ đành “lực bất tòng tâm” với bệnh viêm đa khớp của chị. Trong khi chỉ còn một kỳ thi nữa thì cô thiếu nữ tên Hoạt này sẽ tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, trở thành một cô giáo thực thụ. Nhưng có ai ngờ được, nếu chị không ngã thì mọi chuyện đã khác đi rồi.

Nỗi đau giằng xé tâm hồn

Cũng từ ngày cú ngã định mệnh đến với chị, mọi sinh hoạt đều phải thay đổi: Đôi chân không đi được vì các khớp xương đều biến dạng; hai bàn tay luôn đau buốt và bị co rút nên cũng không cầm nắm được. Chị lúc nào cũng phải ngồi ngay cả khi muốn nằm vì cả cơ thể luôn sưng tấy và đau nhức. Mọi sinh hoạt của chị rất khó khăn.

Sau một thời gian ở nhờ nhà người bạn, chị về sống với người mẹ già trong căn nhà nhỏ ở quê. Mẹ tuổi đã cao, tinh thần lại thiếu minh mẫn, nhưng bà lại là người duy nhất giúp chị các sinh hoạt cá nhân hàng ngày như tắm rửa, giặt giũ, nấu cơm... Nhiều khi mẹ bị ốm hay vắng nhà, không người giúp đỡ chị chỉ biết ngồi khóc. Những cơn đau đã không cho phép chị tự đứng dậy chăm sóc bản thân, những giọt nước mắt cứ mãi rơi trong vô vọng. Nhiều lần chị phải nhịn đói 2 ngày, trong khi ruột thịt của chị ở xung quanh đó cũng không có nhiều.

Cũng từ ấy, biết bao nhiêu điều tươi sáng phía trước đón chờ chị đành khép lại một Bí thư chi đoàn đầy nhiệt huyết, một cây văn nghệ xuất sắc, một sinh viên giỏi, một nhà cô giáo tương lai.

Ký ức buồn cứ thế đến với chị, đôi môi chị mím chặt để tiếng nấc khỏi bật thành tiếng: “Vì mình là con út trong một gia đình nhà nông, bố thì mất sớm, mẹ già thường xuyên đau yếu, các chị đều đi lấy chồng xa. Cho nên lúc ấy không biết trông cậy vào ai cả.”

Người mẹ già chăm sóc chị được một thời gian thì ốm yếu, bệnh tật nên phải về ở với vợ chồng người chị gái tận dưới Nam Định. Vậy là nỗi cô đơn đã bắt đầu giăng kín mảnh đời chị.

Từ đó, mọi sinh hoạt của chị đều phải “tự lực cánh sinh” trên chiếc giường giữa một ngôi nhà thiếu hơi người thấp lè tè trong vườn chuối lạnh lẽo, trống trải đến rợm ngợp. Thỉnh thoảng nhờ bà con lối xóm tới thăm, cõng ra ngoài chị mới được hưởng chút gió trời.

Trong một lần trên đường đến bệnh viện huyện khám sức khoẻ thì chiếc xe chở chị lại gặp tai nạn, chị văng ra khỏi xe, xương đầu gối bị vỡ…Vậy là vụ tai nạn lần này đã vĩnh viễn đưa chị trở về với chiếc giường để… tập lật, tập lẫy… chật vật như một đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi.

Nhiều khi nửa đêm, do chị đau đớn mà vùng vẫy nhiều, chiếc giường không chịu nổi cũng gãy gục 2 chân sau, chị bị trôi tuột xuống, cố ngoi lên lại tụt xuống như con cá lội ngược dòng thác, dù biết chẳng bao giờ leo nổi lên cái thác đó. Suốt đêm đó chị vừa lẫy, vừa tủi thân đau đớn khóc than đến tận hôm sau hàng xóm mới biết chạy vào đỡ chị ra khỏi giường.

Đời người con gái bị chôn vùi, chuyện học hành dang dở, nhiều lần chị không thiết sống nữa. Đã có bao đêm chị bứt rứt ứa dàn nước mắt khóc với cả vốc thuốc ngủ trong tay. Rồi chính chị cũng chẳng biết được điều gì đã lôi chị quay lại với cuộc sống hàng ngày, để chị có niềm tin và nghị lực vào tương lai nữa.

Sống dậy từ những vần thơ

Là một người có năng khiếu văn chương, lại khéo tay nên chị có thể vẽ tranh làm thơ. Chị cũng quan niệm rằng: “Thứ duy nhất giúp mình không mất đi niềm tin vào cuộc sống, quên đi những bất hạnh đời thường, lấy lại sự thăng bằng tâm lý đó chính là những bức tranh và những bài thơ do mình làm ra”

Chị vẫn còn nhớ rõ những ngày còn đi học, chị đã tham gia vẽ tranh, làm thơ, mỗi khi trường tổ chức làm báo tường, diễn văn nghệ…chị đều giành được giải cao.

Từ khi bị tai nạn, chị lao vào sáng tác nghệ thuật như thể để trả nợ đời. Vả lại lúc ấy con người chị sao mà nhiều cảm xúc đến thế. Ban đầu chỉ một vài học sinh, thầy cô giáo trong các trường phổ thông trong xã, huyện biết đến, rồi thuê chị làm thơ, vẽ tranh, viết truyện.

Sau một thời gian, ngành văn hoá thông tin huyện biết đến chị, tới đặt chị viết kịch bản, làm thơ, viết văn,… phục vụ công tác tuyên truyền cổ động. Cũng từ ấy mà mọi người trong vùng quen gọi chị bằng cái tên… “Hoạt vẽ, Hoạt thơ”.

Chị cũng thường xuyên viết báo, những bài viết của chị hầu hết đó là những câu chuyện bất hạnh có thật mà chị nghe mọi người trong trung tâm kể lại. Niềm an ủi còn lại duy nhất đó chính là những lá thư tâm sự của những người bạn tứ phương gửi đến.

Mặc dù bị bệnh viêm đa khớp nhưng chị vẫn gắng cầm cây bút để sáng tác thơ, viết báo…
Mặc dù bị bệnh viêm đa khớp nhưng chị vẫn gắng cầm cây bút để sáng tác thơ, viết báo…

Do bị bệnh tật co giật, những ngày đầu chị phải vất vả lắm mới cầm được bút để làm thơ, vẽ… dù đau đớn vô cùng nhưng chị cũng cố hết sức. Bức tranh đầu tiên hoàn thành chị đã mừng đến phát khóc. Những bức tranh của chị tập trung miêu tả thiên nhiên con người, tranh chị mang chút lãng mạn, thoáng buồn…

Nhiều du khách đã tìm đến gặp chị và trực tiếp nghe chị đọc thơ, vẽ tranh. Chị cầm cuốn sổ thơ dày cộm kể: “Có hôm mình đọc từ chiều đến tối, hơn 3 tiếng đồng hồ. Khách cứ ngồi im phăng phắc lắng nghe. Khi mình dừng lại để nghỉ, họ liền nhắc: “tiếp đi!” và mình lại đọc… Có nhiều đoàn khách từ nước ngoài đến sau khi nghe đọc thơ, xem vẽ tranh đã cõng mình ra sân chụp ảnh lưu niệm, xin được chép tặng thơ”.

Chị còn nhớ, những du khách nước ngoài thường xin chị vẽ hình chân dung họ làm kỷ niệm. Có nhiều ông khách thích thú, "sẵn sàng… phá” cả một tour du lịch ở lại nhà chị cả tuần chỉ để đợi chị vẽ cho một bức tranh chân dung mới chịu ra về.

Những bài thơ, bức tranh của chị vẽ ấy khiến những du khách rất cảm phục nghị lực sống lặng lẽ đến phi thường của chị. Đến khi về nước, họ vẫn thường xuyên gửi thư sang động viên thăm hỏi, động viên chị, hẹn ngày sang Việt Nam tới thăm.

Vươn lên hoàn cảnh bằng ý chí phi thường tuyệt vời của một người phụ nữ, kể ra cũng thấm thoát được hơn hai mươi năm trời. Chị luôn tâm niệm: “Khi con người ta không có đôi chân để đi, thì vẫn còn có một trái tim biết yêu và biết rung động trước những cái đẹp bình dị nhất của cuộc đời. Chỉ cần có niềm tin, sẽ không bao giờ là kết thúc hay tuyệt vọng. Bế tắc hay khởi đầu là do chính mình làm nên.”

Chúng tôi nấn ná ngồi nghe chị tâm sự cả buổi chiều, rồi cũng đến lúc phải nói lời chia tay, chị tươi cười nắm tay chúng tôi bảo: “Thi thoảng  vào chơi với chị cho chị đỡ buồn nhé!”. Cuộc sống của chị vốn có nhiều khó khăn, thử thách và cả thất vọng xen lẫn nỗi buồn. Vậy mà trái tim chị vẫn khao khát sống, vẫn kiên cường tìm lại một niềm vui nho nhỏ, điều đó thật là kỳ diệu!

Tự Lập