Người chiến sĩ Hải Phòng và kỷ niệm sâu sắc về bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm

Chiến sĩ Đoàn tàu không số Lưu Công Hào, người con của quê hương Ngọc Xuyên, Đồ Sơn từng tham gia nhiều chuyến tàu chở vũ khí, hàng hoá vào Nam, vượt qua biết bao gian khổ, thử thách của thiên nhiên khắc nghiệt, vòng vây của kẻ thù nơi biển cả mênh mông. Trong một lần chiến đấu với kẻ địch ở vùng biển Quảng Ngãi, ông và đồng đội bị thương, được bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm chữa trị, chăm sóc.

Một thời để nhớ

 

Tại nhà riêng ở phường Thành Tô, quận Hải An, ông Hào kể cho chúng tôi  nghe những kỷ niệm sâu sắc về trận đánh sinh tử với kẻ địch để bảo vệ tàu, vũ khí.  Trong câu chuyện, ông luôn nhắc đến chuyến đi đầy kỷ niệm tới vùng đất Đức Phổ, Quãng Ngãi, nơi ông được gặp và trở thành “người em” thân thương của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm.

 

Ông Hào nhớ lại, sau Tết Mậu Thân 1968, những chiến sĩ tàu 43, Đoàn tàu không số, do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và chính trị viên Trần Ngọc Tuấn chỉ huy, nhận lệnh chở vũ khí vào chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi. Mặc dù được ngụy trang thành tàu đánh cá, nhưng trên đường đi, tàu của các anh vẫn bị tàu chiến địch, máy bay bám riết, bắn pháo sáng thăm dò. Khi gần đến bờ, bị địch nã pháo tới tấp, thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng hạ lệnh chiến đấu. Sau đợt bắn trả bằng đại liên, DKZ, tàu của ta bắn hạ  một máy bay địch, làm nó bốc cháy đâm xuống biển. 3 chiếc trực thăng vũ trang của địch tập trung bắn xối xả vào tàu của ta. 11 chiến sĩ bị thương, tàu mắc cạn, nhưng các anh vẫn chiến đấu ngoan cường, mặc dù lực lượng quá chênh lệch. “3 chiến sĩ hy sinh, trong đó  pháo thủ số 2 hy sinh khi vẫn ôm quả đạn ở tư thế quỳ bắn. Quyết không để tàu, vũ khí, hàng hóa rơi vào tay địch, thuyền trưởng Đức Thắng hạ lệnh đập khói mù, đặt mìn hẹn giờ nổ tàu. Chớp thời cơ, cán bộ, chiến sĩ trên tàu tập trung đưa anh em hy sinh và bị thương vào bờ”. Ông Hào bồi hồi nhớ lại: “Địch lùng sục khắp làng, la hét inh ỏi nhưng không thể tìm thấy chiến sĩ Việt Cộng nào vì chúng tôi được bà con thôn Qui Thiện, xã Phổ Hiệp, Quảng Ngãi che chở và 10 ngày sau, tất cả chiến sĩ bị thương được đưa đến Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm ở sâu trong cánh rừng Ba Tơ. Để đến được nơi này, người dân và các chiến sĩ phải vượt qua nhiều ổ phục kích, oanh tạc, lùng sục gắt gao của địch”.

 

Bác sĩ như...chị hiền

 

“Chị Thuỳ đẹp lắm, làn da trắng, môi đỏ, dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, dễ thương. Chúng tôi thấy ấm lòng, vợi bớt cơn đau khi vết thương hành hạ”-ông Hào kể. “Chị ân cần hỏi thăm từng chiến sĩ với sự cảm thông của người thầy thuốc, đồng đội. Chị Thuỳ trực tiếp mổ lấy ra mảnh đạn xiên vào tay trái của tôi. Tôi chứng kiến chị mổ ruột thừa cho một chiến sĩ được miêu tả trong cuốn nhật ký ngày 8-4-1968 của chị. Đầu năm 2008, khi trở lại chiến trường xưa, tôi có dịp gặp lại người chiến sĩ ấy”. 

 

Cuộc sống của chị Thuỳ và những người công tác ở bệnh xá hồi đó khổ cực, thiếu thốn đủ thứ. Nơi làm việc là ba dãy nhà lá nửa nổi nửa chìm, không chiếu, chăn. Căn phòng nơi chị Thuỳ ở thấp lè tè, bên cạnh là phòng điều trị, trên vách treo dòng chữ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Bữa cơm hằng ngày của các chị độn đầy khoai sắn, thức ăn thường xuyên là mắm cá chượp, rau má. Vậy mà để đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, các chị không ngần ngại bớt khẩu phần ăn, đi xa hàng chục cây số nhận lương thực tiếp tế. Trong những chuyến đi như thế, có chị đã anh dũng hy sinh khi bị địch tấn công...Ông Hào nhớ những lần cùng đồng đội vào rừng chọn chặt cây gỗ thẳng làm ghế ngồi cho bệnh xá, làm lan can tay vịn cho thương binh tập đi, những chiếc phản, giường tự tạo cho mọi người nghỉ ngơi sau những giờ làm việc mệt nhọc. Có lần chiến sĩ Hào trèo lên cây che tán lá nguỵ trang, để khi chị Thuỳ phơi bông băng, dụng cụ y tế tránh được máy bay địch nhòm ngó, chị nhắc nhở: “Cẩn thận kẻo ngã đấy em nhé!”.

 

Những ngày ngắn ngủi ở bệnh xá, ông cảm nhận sâu sắc ý chí vượt lên mọi thiếu thốn, gian khổ, tinh thần quả cảm, yêu đời mãnh liệt của những con người nơi đây. Bất cứ lúc nào rảnh, chị Thuỳ đều tranh thủ học tiếng Anh qua ra-đi-ô. Ông Hào cho biết, trong những lần hai chị em tâm sự, chị Thuỳ có nói lý do thôi thúc chị học tiếng Anh. Đó là vì một lần du kích của ta bị thương, địch lùng sục đòi bắt. Chị đứng chặn trước họng súng giải thích rằng đây là dân đánh cá để bảo vệ quân ta, nhưng không nói được tiếng Anh, nên chúng không nghe. Vì thế chị  quyết tâm học bằng được thứ tiếng để có thể làm những việc có lợi cho cách mạng. 

 

 “Ngày 10-4-68. Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi, nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương...Mọi người còn nấn ná  đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần cuối. Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình, như mặt sông những ngày mưa lũ và... mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp lại lời chào của mọi người. Thôi, các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu”.

                                      (Trích: Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm)

                                                                            

“Hào, em thương quý. Gặp em chị như thấy lại quê hương trong đôi mắt nhìn thắm thiết, trong giọng nói quen thân, trong tiếng cười ấm áp của em...” Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm mở đầu lá thư gửi người chiến sĩ Đoàn tàu không số năm xưa Lưu Công Hào như vậy. Lá thư, tấm hình chị Thùy ( cách gọi thân mật) chụp ở Hà Nội trước khi vào chiến trường miền Nam và cuốn sổ lưu niệm được ông Hào cất giữ cẩn thận như kỷ vật của đời lính.

 

Kỷ vật đời lính

 

“Mỗi lần đọc lại lá thư, những dòng lưu bút, trong tâm trí tôi kỷ niệm theo đó ùa về”-Ông Hào nghẹn ngào tâm sự. Rồi ông cho chúng tôi xem tấm ảnh và bản chụp trang thư, sổ lưu niệm với nét bút nghiêng, đều của chị Thuỳ (bản chính của bức thư hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hải quân nhân dân Việt Nam). Ông cho biết, đó không chỉ là những dòng chữ chan chứa tình cảm chị em, mà còn là tình người, khát vọng về một cuộc sống hoà bình, ấm no của chị Thuỳ, người dân Đức Phổ và đồng bào miền Nam.

 

“Muốn nói cho em nghe tất cả từ nỗi nhớ, niềm thương của một người con xa quê, đến sự sung sướng, tự hào vì được gặp em trong cuộc chiến đấu vĩ đại này và những suy nghĩ riêng tư của chị nữa, nhưng... Có lẽ,  dịp nào đó chị sẽ viết thư nói cho em nghe, nếu như ra đi em vẫn còn nhớ, còn thương người chị MB này. Bây giờ, thời gian ngắn ngủi, chị chẳng biết nói gì cho đủ, gửi vào trang sổ nhỏ này tình thương đậm đà như màu đất quê hương của chị. Hãy gìn giữ lấy nó nghe em”. Chị luôn chân thành và thật lòng như vậy. Ông Hào bộc bạch:” Tôi coi đó là niềm động viên, động lực giúp tôi thêm sức mạnh vượt qua gian khổ, nguy hiểm trong chiến đấu, nỗ lực học tập và công tác. Và trong tôi luôn khát khao có dịp gặp lại chị Thùy, được dẫn chị dạo chơi trên bãi biển Đồ Sơn như chị từng mong ước. “Mong ước một ngày không xa nữa, chị sẽ đến Đồ Sơn nghỉ mát và...1 buổi chiều nào đó trên bãi biển Đồ Sơn, chị lại được gặp em, được nắm tay em (cánh tay đau đã làm em mất ngủ mấy đêm ở trạm này, lúc ấy đã lành từ lâu rồi em nhỉ). Nhớ gửi thư nhiều cho chị nghe em!”

 

Cuộc hội ngộ nghĩa tình

 

Ông Hào nhớ như in hình ảnh, tình cảm bịn rịn lúc chia tay. Chị Thuỳ đứng đó, mãi không chịu về trạm xá, không vẫy tay chào như mọi người, trong khi  dòng nước mắt chảy dài trên má. Kẻ ở, người đi lưu luyến, chị Thuỳ gắng mãi mới nói lên lời: “Thôi các anh đi đi, hẹn ngày gặp lại trên đất Bắc thân yêu”.

Ông Hào cho biết, chiến tranh và nhiệm vụ cần giữ bí mật, chưa cho phép ông đến thăm gia đình chị Thuỳ. Sau ngày đất nước thống nhất, ông nhờ bạn bè ở Hà Nội tìm giúp địa chỉ, nhưng không có hồi âm. Mãi đến năm 2006, nhờ sự giúp đỡ, liên hệ của cán bộ Bảo tàng Hải quân, ông Hào mới có dịp gặp mặt những người thân trong gia đình chị Thuỳ. Chị Kim Trâm, một trong hai người em gái chị Thuỳ rất xúc động, khi biết có một chiến sĩ gìn giữ kỷ vật của chị gái mình mấy chục năm qua. Một ngày tháng 6-2006, gia đình chị Thuỳ đã về Hải Phòng, cuộc gặp mặt đầy xúc động và bất ngờ như được liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm mách bảo, chỉ dẫn. Mọi người chăm chú xem tấm hình và cuốn sổ lưu niệm ghi lại tình cảm thấm đẫm yêu thương mà chị Thuỳ dành cho người lính năm xưa. Nén tình cảm xúc động cứ chực trào dâng thành nước mắt, ông Hào ngỏ lời xin lỗi vì đã không thể tìm gặp mẹ và gia đình chị Thùy sớm hơn ngay tại Hà Nội. Mẹ chị Thùy nhỏ nhẹ: “Thật đáng trân trọng, vì con đã giữ những kỷ vật của Thùy gần 40 năm qua”.

 

Theo ước nguyện của chị Thuỳ, ông Hào cùng người thân của chị đến thăm khu nghỉ mát Đồ Sơn, thênh thang sải bước trên những con đường bên bờ biển, tận hưởng không khí thoáng mát. Mọi người đến bến K15 xưa, vẫn còn đó những trụ bê tông của bến tàu cũ, sừng sững Tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển, nơi xuất phát của những chuyến tàu không số năm xưa, một trong những chuyến tàu ấy đã ghé vào Đức Phổ, Quảng Ngãi. Ông Hào và người thân của chị Thuỳ dâng nén nhang thơm kính viếng hương hồn những đồng đội ngã xuống trong những chuyến tàu vượt biển chở vũ khí vào Nam năm nào và nguyện cầu chị Thuỳ về đây chứng kiến cuộc hội ngộ tình nghĩa này. Trong lòng mỗi người trào dâng nỗi nhớ, niềm thương, lòng biết ơn những người lính hải quân,  nữ Anh hùng như chị Thuỳ, đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình, làm nên mùa Xuân cho dân tộc.

 

Văn Lượng