Người cao tuổi: Vốn quý của xã hội
Lớp người thuộc tuổi “xưa nay hiếm” xem ra không còn hiếm nữa. Với số dân trên 86 triệu, tuổi thọ trung bình khoảng 73, số người trên 65 tuổi chiếm chừng 7%, vậy là cả nước ta có khoảng 6 triệu người được xem là người cao tuổi. Đó là một lực lượng hùng hậu, một nguồn vốn xã hội rất quý.
Lớp người thuộc tuổi “xưa nay hiếm” xem ra không còn hiếm nữa. Với số dân trên 86 triệu, tuổi thọ trung bình khoảng 73, số người trên 65 tuổi chiếm chừng 7%, vậy là cả nước ta có khoảng 6 triệu người được xem là người cao tuổi. Đó là một lực lượng hùng hậu, một nguồn vốn xã hội rất quý. Vì rằng, nói đến vốn xã hội, trước hết là nói con người. Vốn xã hội giàu hay nghèo, có tác động tích cực hay tiêu cực tùy theo độ tin cậy và tính bền vững của mối quan hệ giữa người và người.
Có một gợi ý thú vị cho rằng ở nước ta “Trong “Cư trần lạc đạo phú” (“sống đời vui đạo”), Trần Nhân Tông đã bàn về xây “vốn xã hội” cho con người Việt Nam trong buổi sơ khai lập quốc ấy khi nói về “của báu trong nhà”. Của báu ấy trước hết là con người Việt Nam, một vốn quý báu nhất trong xã hội”. (Thái Kim Lan). Mảnh đất thấm đẫm máu, mồ hôi, nước mắt của bao thế hệ Việt Nam này đã sinh thành nên “của báu” mà Trần Nhân Tông nói đến.
Quả thật, người cao tuổi Việt Nam hôm nay là một lực lượng xã hội đặc thù. Trải qua cách mạng và kháng chiến, họ là chứng nhân và cũng là nhân vật chính của giai đoạn lịch sử hào hùng trong biên niên sử dân tộc.
Trong cuộc sống hôm nay, có không ít những “hoa trường thọ” đó, những “cựu chiến binh” mà sự trải nghiệm máu lửa trong chiến đấu trước đây, rồi đối diện với những thách thức của sự nghiệp đổi mới đất nước từ Đại hội VI đang là điểm tựa vững chắc trong sự nghiệp phát triển đất nước, đặc biệt là trong cuộc chiến đấu chống lại “giặc nội xâm”, một “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra cái mới mẻ tốt tươi”, như Bác Hồ đã căn dặn lại trong Di chúc. Thực tiễn của cuộc chiến đấu cam go này cho thấy có sự đóng góp đáng kể của không ít những người cao tuổi, những “hoa trường thọ” có sức bền của sự từng trải dãi dầu nắng gió cuộc đời nên biết xót xa, phẫn nộ trước sự tàn hại, hủy hoại những hoa trái của cuộc đời ấy.
Phải chăng trong đồng loạt những người “đến hẹn lại hưu”, còn không ít những nguồn lực sung sức mà thời gian tích luỹ là những tấm bằng vô giá về tri thức chuyên môn cũng như bản lĩnh hoạt động. Không thiếu những người khi nghỉ hưu lại có năng suất và hiệu quả đóng góp cho xã hội cao hơn khi đương chức, bởi họ tìm thấy những hình thức hoạt động mới lý thú và bổ ích cho chính mình, cho cộng đồng, cho đất nước. Cuộc sống đã chứng kiến nhiều tấm gương như vậy.
Đối với những người lao động trí óc, những nhà khoa học có trình độ cao, thì lúc nghỉ hưu lại là lúc họ có sự cống hiến lớn và thiết thực vì họ được làm cái mà họ muốn cho dù điều kiện vật chất (phòng thí nghiệm, giảng đường, phương tiên đi lại…chẳng hạn) có hạn chế. Với nhiều nhà văn, nhà hoạt động nghệ thuật có thực tài thì chắc là không có khái niệm “nghỉ hưu”, vì lúc “hưu” chính là lúc sức sáng tạo của họ chín nhất, mạnh mẽ nhất. Những công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật bậc cao khi nghỉ hưu cũng lại lúc có điều kiện truyền dạy kinh nghiệm cho lớp trẻ dưới những hình thức làm việc mới. Lực lượng này cần được xem là một nguồn vốn xã hội cần trân trọng. Một câu hỏi xin được đặt ra: Nhà nước đã có chính sách như thế nào để khai thác, phát huy và bồi dưỡng cái vốn xã hội to lớn đó? Xã hội đã làm gì để nuôi dưỡng cái vốn quý giá đó?
Đã từng có những lo lắng về sự hụt hẫng đội ngũ chuyên gia đầu đàn trong khá nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là khoa học và giáo dục. Liệu sự hụt hẫng ấy có liên quan đến kiểu tư duy máy móc và giáo điều, chưa thoát ra khỏi chủ nghĩa bình quân trong chính sách cán bộ và sử dụng nhân tài? Có phải xét đến cùng là sự quan liêu, ngại trách nhiệm trong công tác tổ chức và chính sách lao động, nhân danh chuyện đào tạo lớp trẻ, vội đẩy những trí thức, chuyên gia đầu ngành ra khỏi vị trí, mà việc họ ra đi đã tạo nên những khoảng trống khó bù đắp. Đào tạo lớp trẻ là tuyệt đối đúng. Nhưng trong khoa học và giáo dục, đôi khi, vì để đào tạo lớp trẻ lại phải biết cách tạo điều kiện cho những chuyên gia đầu đàn chuyển giao tri thức và công nghệ cũng như kinh nghiệm hoạt động mà họ tích luỹ trong cả cuộc đời
Để phát huy được lực lượng những người về hưu đang có năng lực cống hiến, cần biết cách khai thác những đóng góp trí tuệ và kinh nghiệm của họ, nhất là những chất xám đã được tích lũy. Khi đã về hưu, sự ràng buộc hình thức về tổ chức đã cởi bỏ, động lực thúc đẩy người cao tuổi tiếp tục được cống hiến và cống hiến được tùy thuộc vào bản lĩnh cá nhân từng người.
Biết cách khai thác và phát huy trí tuệ và kinh nghiệm đã được tích lũy và thể nghiệm của từng cá nhân người cao tuổi không những là tạo tiền đề cho họ sống có ích, và do sống có ích nên có thể sống vui và mạnh khỏe, giảm thiểu ốm đau bệnh tật cũng là giảm bớt gánh nặng cho gia đình và cho xã hội mà còn bổ sung và làm giàu nguồn vốn xã hội. Càng quan trọng hơn khi hiểu ra được rằng thế kỷ chúng ta đang sống là thế kỷ mà vai trò cá nhân con người được khẳng định cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Hoàn toàn có lý khi nói cuộc cách mạng về thông tin, về khoa học và công nghệ trước hết là “cuộc cách mạng về các quan niệm” (P.Drucker). Trong “cuộc cách mạng về các quan niệm” đó, có quan niệm về nguồn lực con người, về chất xám và hàm lượng của nó trong sản phẩm kinh tế có ý nghĩa quyết định. Ấy thế mà, nhìn lại chặng đường phát triển trong hai thập kỷ qua, bên cạnh những thành tựu kinh tế tương đối rõ nét, thì hai lĩnh vực yếu kém nhất, cũng là lạc hậu nhất của đất nước ta là văn hóa, giáo dục và khoa học, công nghệ, những nhân tố trực tiếp quyết định nguồn lực con người của phát triển.
Đành rằng “có thực mới vực được đạo”. Không có những tiến bộ về kinh tế, không vượt qua được “cái ngưỡng” của mức nghèo khổ phản ánh qua chỉ số GDP đầu người, thì cũng khó mà nói đến phát triển trong ý nghĩa đích thực của nó. Thế nhưng, bứt lên về kinh tế tuy đã hết sức gay go, song sẽ khó hơn nhiều là bứt lên về văn hóa, vì rằng “giá trị cao quý nhất, đẹp đẽ nhất, cái mùi, cái vị, cái hương, cái thơ của đời sống, đó là giá trị văn hóa, giá trị tinh thần” một cách diễn đạt rất hay của Phạm Văn Đồng.
Nhân đây, xin gợi lại một câu chuyện đã qua. Cách đây mấy thập niên, ở Liên Xô xuất hiện một cuốn sách nhan đề “Người ta không chỉ sống bằng bánh mì”. Và rồi tác giả của nó bị “thân bại danh liệt” về sự quy kết cho cái tội phỉ báng chế độ. “Bánh mì” thì lúc ấy Liên Xô không thiếu. Người ta còn đủ lực để đưa con người Xô Viết vào vũ trụ trước Mỹ.
Nhưng dân chủ và tự do thì thiếu, rất thiếu, đây là điều mà tác phẩm nói trên đặt ra. Một xã hội mà con người chỉ được nhìn theo một hướng, nghĩ theo một cách, làm theo một mệnh lệnh, không được quyền sống thật, nói thật, là một xã hội không được xây trên một nền móng đích thực. Nói “lâu đài xây trên cát” thì thật tàn nhẫn, vì đâu phải là cát, mà là núi xương, sông máu. Song đau đớn thay, hình ảnh ấy tuy tàn nhẫn song có cái lý của nó.
Vì rằng, khi lâu đài đó sụp, đại bộ phận dân chúng dửng dưng, kể cả những người vốn được xem là trung kiên, nòng cốt cũng đứng nhìn chứ không ghé lưng vào chống đỡ. Đương nhiên, cùng với nguyên nhân sâu xa nói trên, sự thất bại của mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp kéo dài đã đưa tới sự trói buộc, kìm hãm sức sản xuất, năng suất lao động ngày càng giảm, khoa học công nghệ không theo kịp bước phát triển thế giới đã đẩy nền kinh tế Xô Viết đến bờ vực.
Trọng bệnh bên trong đã làm suy yếu nội tạng, khiến không còn sức chống đỡ với sự tấn công từ bên ngoài bấy lâu phục sẵn, chờ dịp. Đây là sự kiện dữ dội kết thúc thế kỷ XX, một thế kỷ “ngang ngạnh và bướng bỉnh” với biết bao nhiêu sự biến, tráng lệ huy hoàng có, khốc liệt và khủng khiếp có. Đây là bài học đau đớn của lịch sử: Phải nhìn vào bình diện văn hóa, vào đời sống tinh thần để nhận diện cho đúng tính bền vững của phát triển.
Bởi lẽ, cá nhân xem ra chẳng là gì trước cái mênh mông biển người trong xã hội thế nhưng, vốn xã hội không nằm đâu khác ngoài những cá nhân đó. Mỗi cá nhân hành động theo những mục đích riêng tư không ai giống ai, với những năng lực, trình độ, bản lĩnh cũng hết sức khác nhau. Tất cả những cái khác nhau đó đụng độ, va đập, triệt tiêu lẫn nhau đồng thời bổ sung cho nhau hợp thành một véc-tơ đẩy sự phát triển đi tới không gì cản lại được của xã hội. Vì đó là sự sống. Dòng chảy của cuộc sống là liên tục không gì có thể ngăn chặn. Lực cản chỉ có thể làm chậm lại. Nhưng rồi sự sống vẫn phải tự khơi thông dòng chảy cho chính nó. Vốn xã hội nằm trong dòng chảy liên tục đó. Vì thế, nếu mỗi cá nhân được vận động và phát triển theo đúng cái mà nó có thì vốn xã hội sẽ được bồi đắp. Lưu thông, chu chuyển cũng là sự bồi đắp, tăng trưởng.
Nhưng nếu mỗi cá nhân bị thui chột đi bởi sự áp đặt về cách nghĩ, cách cảm, bóp chết mọi tìm tòi,sáng tạo thì vốn xã hội cũng sẽ thui chột và tiêu tan. Tất nhiên, không phải cứ giải phóng cá nhân đi, thì tự khắc có phát triển. Có thể có phát triển theo nghĩa những tiệm tiến nhỏ giọt, vì đó là sự vận động của cuộc sống, nhưng phát triển bền vững thì không.
Nguyên nhân sâu xa là: Văn hóa không thể và không hề là “mì ăn liền”. Văn hóa của từng con người vốn được hun đúc nên từ sự chuẩn bị lâu dài của nhiều thế hệ. Mỗi cá nhân nhận lĩnh được của cha ông từ mối quan hệ di truyền, trong nguồn mạch của lịch sử. Những tố chất di truyền và giáo dục, trong đó có giáo dục gia đình, là hết sức quyết định. Chỉ có điều những cái đó đều đòi hỏi điều kiện tiên quyết là thời gian, yếu tố nghiệt ngã của văn hóa. Thời gian thực hiện sự tích lũy, kiểm nghiệm và thanh lọc để xây đắp nên nền tảng văn hóa của một xã hội. Ở một chừng mực nào đó, lớp người cao tuổi đã trải qua sự tích lũy, kiểm nghiệm, thanh lọc của thời gian, một bộ phận trong họ có những khả năng đóng góp đáng quý, làm phong phú thêm cho sự đóng góp của lớp trẻ đang là chủ lực của phát triển.
Cần đặt vấn đề “người cao tuổi” trong bối cảnh mới, trong “cuộc cách mạng về các quan niệm” nói trên, mới có thể tìm được giải pháp đúng. Nhân ngày “Người cao tuổi” xin gợi lên một vài vấn đề như trên, mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh.
TƯƠNG LAI
