Ngựa trong đời sống người Việt xưa
Trong đời sống người Việt, ngựa được sử dụng từ rất sớm, vừa là người bạn đồng hành trong công việc như thồ hàng, đồng áng cho đến tham gia chiến trận, thờ cúng, tâm linh. Ngựa cũng được coi là thứ mua vui trong các cuộc đua mang tính giải trí.
Hà Nội từng có trường đua ngựa
Trong cuốn “Xứ Bắc Kỳ năm 1900”, Robert Dubois đã chia sẻ thông tin về các trường đua ngựa tại Bắc Kỳ, đặc biệt là ở Hà Nội. Theo ông, giống như một số thành phố lớn ở Pháp, Hà Nội có trường đua ngựa riêng, thậm chí còn thu hút đông đảo công chúng hơn nhiều trường đua tại Chính quốc. Các cuộc đua không diễn ra rải rác hay chỉ vào những dịp hiếm hoi mà tạo thành một mùa thể thao trọn vẹn.
Trong suốt thời gian đó, vào mỗi chủ nhật, đông đảo khán giả lịch lãm lại tụ họp để chứng kiến các màn tranh tài của những chú ngựa nhỏ nhưng gan dạ, được điều khiển hết sức khéo léo, đôi khi bởi chính các kỵ sĩ người An Nam.
Đua ngựa trên đường chạy phẳng, đua ngựa vượt chướng ngại vật, không thiếu loại hình nào. Các chú ngựa được chuyên gia huấn luyện bài bản, thể hiện tốc độ đáng kinh ngạc so với vóc dáng của chúng. Trên các chặng đua dài từ 1.000 - 3.000 mét, các kỵ sĩ dốc toàn lực, ghìm chặt dây cương, thúc ngựa chạy hết tốc lực về tới cột đích.
Không khí trường đua vô cùng sôi động. Ngay sát khu cân ngựa và quầy cá cược là một khán đài nhỏ nhắn, lúc nào cũng chật kín người. Hình thức cá cược được tổ chức hoàn toàn tương tự như ở Pháp: người chơi chen chúc nhau, ai nấy đều hy vọng chiến thắng hoặc chấp nhận thua những khoản tiền không hề nhỏ.
Mùa thể thao kéo dài khoảng 6 tháng mỗi năm. Người chiến thắng sẽ được Hội Đua ngựa trao giải thưởng, tùy theo quy mô của từng cuộc đua. Hội cũng tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chuyên môn: tại khu cân ngựa, trọng lượng được kiểm soát chặt chẽ, bất kỳ mánh khóe nào cũng đều dẫn đến việc bị loại.
Mỗi buổi thi đấu có từ 5 - 6 cuộc đua, các tốp ngựa bám sát nhau trong suốt chặng đua. Sau khi tan cuộc, các đoàn xe nối tiếp nhau cùng các quý bà ăn mặc sang trọng, khung cảnh khiến người ta liên tưởng đến cảnh trở về từ trường đua Longchamp.
Ông Robert Dubois cũng cho biết, trường đua của Hà Nội hoàn toàn sánh ngang với các trường đua ở Pháp, cả về vẻ thanh lịch lẫn không khí cuồng nhiệt.

Không chỉ riêng Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh và Lạng Sơn cũng sở hữu những trường đua được giới sành điệu thường xuyên lui tới, tạo thành một mạng lưới trường đua rộng khắp Bắc Kỳ.
Dù ngựa và kỵ sĩ An Nam nhỏ con hơn so với ở phương Tây, nhưng sự táo bạo, bền bỉ cùng kỹ thuật thi đấu điêu luyện đã để lại ấn tượng sâu sắc, biến bộ môn đua ngựa trở thành thú vui đặc trưng của dân chơi Bắc Kỳ trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt.
Qua các tài liệu còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I cho biết thêm: Cuộc đua ngựa đầu tiên do Hội Đua ngựa Bắc Kỳ tổ chức diễn ra vào Chủ nhật ngày 05/02/1888.
Cuộc đua diễn ra khu vực Hoàng thành và được dân chúng trong vùng quan tâm náo nhiệt. Từ đầu giờ chiều, các chỗ ngồi đã chật kín. Đường đua được vạch sẵn, đội quân nhạc được bố trí dưới một chòi riêng, trong khi đội lính bảo an xếp thành hàng rào quanh khu vực thi đấu cũng như tại lối vào khán đài. Các khán đài được đặt ở phía dưới Cột cờ, có bố trí ghế ngồi.
Đúng 3 giờ chiều, Toàn quyền Đông Dương đến trường đua bằng ô tô và được chào đón bằng Quốc ca Pháp. Tiếp đó là Tướng Bégin cùng đông đảo sĩ quan; ông Berger, quyền Tổng trú sứ, đi cùng phu nhân; Kinh lược sứ cùng các quan chức. Sự hiện diện đông đủ của giới chức cấp cao cho thấy vị trí đặc biệt của bộ môn đua ngựa trong đời sống xã hội đương thời.
Để tiếp tục khuyến khích hoạt động chăn nuôi ngựa, chính quyền Pháp tổ chức nhiều cuộc thi ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ. Bên cạnh đó, các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn và Phnom-penh đều có trường đua ngựa. Các cuộc đua vừa là nguồn động viên tinh thần đối với người chăn nuôi, vừa là một biện pháp chọn giống hữu ích. Vì vậy, Phủ Toàn quyền Đông Dương đã trợ cấp đều đặn hàng năm cho Hội Đua ngựa.
Ngựa thời nhà Nguyễn
Thời nhà Nguyễn, ngựa ngoài việc dùng trong quân đội, còn được dùng để lưu chuyển công văn, giấy tờ, thư từ quan trọng của triều đình. Hầu hết, các trạm dịch đều được cấp ngựa trạm.
Ban đầu, mỗi trạm được cấp hai con ngựa, sau này việc chuyển đệ công văn tăng thêm thì mỗi trạm được cấp từ ba đến sáu con ngựa khỏe kèm theo tiền nuôi ngựa. Ngựa trạm được lựa chọn cẩn thận và chăm sóc chu đáo. Nếu trong một năm, nhà trạm làm chết một hoặc hai ngựa thì Đội trưởng, Thứ đội trưởng trạm ấy bị phạt 40 roi. Số ngựa chết đến ba con, xử phạt 80 trượng. Năm Minh Mệnh 10 (1829), viên Đội trưởng trạm Hòa Mã ở trấn Bình Hòa bị phạt đánh tới 100 trượng do chỉ trong vài ngày mà trạm ấy có tới ba con ngựa chết.
Ngoài việc sử dụng ngựa cho quân đội, hộ giá nhà vua, vận tải, chuyển phát giữa các dịch trạm, ngựa còn xuất hiện nhiều dưới dạng tượng đá trong các cung điện, lăng tẩm của vua chúa nhà Nguyễn. Minh Mệnh năm thứ 12 (1831) vua sai Bộ Công vẽ mẫu tượng đá quan văn, quan võ, lính thị vệ, voi đá, ngựa đá giao cho Quảng Nam, Thanh Hoa chế tạo.
Trong đó tượng quan văn, quan võ mỗi thứ 1 đôi, 6 tượng thị vệ, đều cao 3 thước 6 tấc; voi đá 2 con, mỗi con cao 4 thước 1 tấc; ngựa đá 2 con, mỗi con cao 2 thước 7 tấc; chế tạo xong, đưa về Kinh bày ở lăng vua Gia Long.

Ngựa cũng là một trong 9 loại thú bốn chân quý xuất hiện trên Cửu đỉnh tại kinh thành Huế. Năm 1835, vua Minh Mệnh bắt đầu cho đúc cửu đỉnh, năm sau (1836) chín đỉnh đồng được đúc xong, vua bảo Nội các rằng: Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng sông, núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật.
Vì vậy, những họa tiết khắc trên cửu đỉnh đều là những cảnh vật được chọn lọc tinh túy nhất, đại diện cho mọi miền đất nước, tạo nên bức tranh thiên nhiên sống động về cuộc sống con người Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn.
Người Pháp phát triển đàn ngựa ở Việt Nam
Khi thực dân Pháp xâm lược Đông Dương, ngựa được sử dụng nhiều trong quân đội. Năm 1883, quân Pháp nhập khẩu 60 con ngựa Manila để cấp cho binh lính. Một năm sau, tiếp tục nhập thêm ngựa từ Miến Điện và Java. Sau đó nữa là ngựa Nhật Bản và Mông Cổ.
Do môi trường sống khác nhau, chế độ chăm sóc, làm việc quá sức, những con ngựa nhập khẩu nhanh chóng gục ngã. Chất lượng ngựa cũng không ngừng suy giảm.
Để cải thiện tình hình, năm 1891, Toàn quyền de Lanessan yêu cầu chính phủ xứ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ có biện pháp can thiệp để khuyến khích việc chăn nuôi ngựa. Thời điểm này, thành Hà Nội đã bị phá hủy, vì vậy, người Pháp cho lập một trại ngựa trong thành và 80 héc-ta đất trống được cải tạo thành đồng cỏ. Việc này đã góp phần giải quyết vấn đề cỏ khô (vốn phải nhập khẩu từ Pháp) cho ngựa, lừa của quân đồn trú, đồng thời khuyến khích giới kiều dân Pháp trồng cỏ cung cấp cho quân đội.
Đầu thế kỷ 20, Hội đồng Hoàn thiện chăn nuôi nghiên cứu của người Pháp đã có các biện pháp nhằm cải thiện giống ngựa bản xứ và tăng cường nhân giống bằng cách nhập khẩu ngựa cái.
Ngựa được nhập khẩu từ Pháp, Úc. Các cơ sở kỹ thuật chăn nuôi ở Hà Nội phụ trách nhân giống ngựa cho khu vực Bắc Kỳ và Trung Kỳ, trong khi đó trại ngựa ở Prey-Komping, tỉnh Kratié, Cao Miên phụ trách khu vực Nam Kỳ và Cao Miên. Ngoài ra, còn có các trại ngựa ở Nước Hai (Cao Bằng), Thanh Hóa, Huế, An Khê (Bình Định) và Gia Định.
Thăng Long tứ trấn chỉ bốn ngôi đền thiêng thờ bốn vị thần trấn giữ bốn vị trí huyết mạch phía đông, tây, nam, bắc của kinh thành Thăng Long xưa gồm: Đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên, đền Quán Thánh. Trong đó, đền Bạch Mã là truyền thuyết về con ngựa trắng đã giúp vua Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long. Theo “Thăng Long cổ tích” khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Thăng Long (năm 1010), vua cho đắp thành, nhưng thành xây đến đâu sụt lở đến đó, bèn cử người tới đền thiêng cầu thần.
Một đêm vua nằm mộng thấy có thần ngựa trắng nói rằng “Mạch đất Long Biên rất thiêng, nay vua cho đắp thành, khiến mạch bị tắc, vậy nên cho đào một cái cừ thông sang sông Thiên Phù và Tô Lịch để mạch được lưu thông, mới xây được thành”.
Tỉnh giấc, vua bèn theo lời ngựa trắng, đắp thành theo vết chân ngựa, thành không lở nữa. Thành xây xong, vua Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng hộ trì cho đất Thăng Long. Từ đấy ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng, ngôi đền thờ thần được gọi tên là đền Bạch Mã.