Ngọt ngào vị cát

Hoàng sực tỉnh, Mặt trời như một khối lửa khổng lồ. Chói chang, gay gắt. Anh đã đầm trong nước mặn ba ngày. Da chợt bong từng mảng. Cái chân bị chuột rút tê dại giờ như có máu truyền xuống đã duỗi duỗi. Hai cánh tay nặng như khúc gỗ, các khớp bắt đầu long ra. Một nỗi cô đơn trống rỗng. Bây giờ là buổi sáng. Lại một ngày nữa. Anh buông mình theo ven nước chảy...

Hoàng còn nhớ như in cái đêm trước lúc cho tàu nhổ neo đi Quảng Ninh 'ăn than'. Anh là thuyền trưởng. Tàu anh chuyên chở quặng Emenhip khai thác ở Hà Tĩnh ra Quảng Ninh xuất khẩu sang Nhật. Thứ 'cát đen' này đã từng gây sóng gió cho bao người đi tìm 'vận đỏ'. Chiều, Hoàng cho tàu nhổ neo ngay tại mũi Gò. Anh xua đám thủy thủ lên bờ. Anh biết đám thủy thủ của anh là những con đực đang thời động tình. Anh dặn 'không được người nào phạm luật biển'. Trước lúc nhổ neo các thủy thủ phải giữ mình trong sạch. Hoàng nhảy xuống một chiếc đò ngang sang bên núi với Thủy, Thủy chờ anh ở một phiến đá cạnh cái khe nước Hao Hao. Người làng bảo rằng: Cái khe này do một thầy địa lý người Tàu tìm ra đặt tên là khe 'Hảo Hảo' sau mọi người gọi là khe 'Hao Hao' cho thuận tiện. Ông thầy này còn phán: 'Nhìn thấy dãy núi Nam Giới như một chiếc ghe lật sấp. Dân ở đây chỉ có thể sống được bằng nghề đánh cá biển chứ không thể giàu lên được bằng nghề buôn đường biển'. Không biết điều đó có linh nghiệm không chứ làng của Hoàng, xưa nay có cả những dòng họ chuyên sống bằng nghề buôn nước mắm rong ruổi khắp đó đây. Cái máu lãng tử đã ngấm vào anh từ lúc nào. Cha anh vốn là một tài công nổi tiếng. Tên ông được đặt cho một con tàu mà dân cửa Bạng, lạch Quèn gọi là tàu ông 'Đại Dương'. Đại là tên anh đầu, Dương là tên ông, Hoàng mồ côi mẹ từ nhỏ. Đói sữa, anh khóc. Anh Đại cầm bát đi xin sữa bên làng đến trưa vẫn chưa về. Cha anh lúng túng. Ông bèn lấy cái bình đựng sữa có núm vú cao su hứng vào vòi nước khe Hao Hao và cho anh bú. Bỗng nhiên Hoàng nín bặt. Dòng nước ngọt thấm vào cơ thể anh như một dòng sữa. Nhưng cũng lạ, hễ thấy nước khe Hao Hao bằng nước khe khác hay nước giếng trên làng là anh lại khóc. Cứ thế Hoàng lớn lên bằng cá gỏi, rượu Đẻn và nước khe Hao Hao.

Mặt trời lên càng nóng, Hoàng vục mặt xuống nước, gáy anh như có một đàn ong châm vào. Tai bắt đầu ù, mắt hoa lên choáng váng. Đã ba ngày chưa có gì vào bụng ngoài chút nước ngọt. Bỗng anh nhận ra mấy đọt tre nhô lên mặt nước. Dân biển trồng rạo bằng tre. Cây tre được bó xung quanh bằng những bó muồng cho cá đến ẩn và nối với một tảng đá to. Anh tìm thấy một mảng lưới mắc vào chân rạo. Hoàng khéo léo gỡ ra và giăng bẫy. Quả nhiên có hai chú cá chuồn lao thẳng vào lưới. Anh cắn bập vào thân cá. Một vị tanh nồng xông lên. Bụng anh lỏng bỏng ói ra một ít nước vàng lộn ruột. Cơ thể anh tỉnh dần. Bải hoải. Anh muốn buông lỏng tay khỏi phao. Thế là khỏe. Chết ở cây rạo này không lo mất xác lại được làm ma chay chu đáo. Bỗng nhiên nỗi nhớ Thủy và giọt máu anh để lại bỗng cồn cào, quay quắt. Không thể để Thủy ở góa được. Thủy còn trẻ. Và đứa con, đứa con, đứa con...

...Đêm đó Thủy mặc bộ quần áo lụa đen mỏng như nước dính vào thân hình nõn nà. Da Thủy trắng, tóc Thủy dài và giọng hát dân ca của Thủy tuyệt vời. Hoàng có thể bỏ ra hàng giờ nghe Thủy hát. Ngày nhỏ anh chỉ được nghe trộm lời ru của người hàng xóm. Thủy kể rằng: Bố mẹ của Thủy từ lâu đã gắn bó với cái khe nước Hao Hao này. Dòng nước trong vắt chảy ra từ những nhũ đá như ngọn nến trời nhỏ giọt. Bố Thủy bắc một dãy máng nước bằng những ống bương to, già đục rỗng để dẫn dòng nước ngọt từ ngực núi ra tới mực nước sâu 3, 4 sải tay cho thuyền của dân đi biển vào lấy nước. Họ trả công cho ông bằng cá hoặc mực có khi là những con đẻn bụng phỗng trứng để ông nhắm rượu. Ngày ngày Thủy lên tận mạch nguồn nhặt hết cây cối, lá rụng xuống. Bố Thủy bảo: Không được để cho dòng nước tạp uế dễ sinh ra bệnh sốt rét, ỉa chảy. Dân biển cứ thế uống nước lạnh hàng bát. Nhất là đám say rượu, chỉ cần vài bát nước khe Hao Hao là tỉnh lại liền. Thủy đón Hoàng lên phiến đá, phút chốc cô biến mất. Anh nhìn quanh chỉ thấy một dải sáng trắng của khe nước lấp lánh ánh bạc dưới trăng. Đâu đây thoảng mùi sim chín. Những quả sim căng mọng, béo ụ, trĩu nặng. Một khóm sim động đậy. Khuôn mặt Thủy ngời ánh lên nụ cười. Thủy dụi mãi mái tóc hương sả vào ngực Hoàng. Đêm nay hình như cô có điều gì thắc thỏm; thỉnh thoảng Thủy lại thở dài. Trăng lên cao, Hoàng uống cạn ánh trăng trong mắt Thủy; Thủy hít hà vị mồ hôi nồng mặn ở cơ thể cường tráng của Hoàng. Giật mình, Hoàng nhìn xuống. Cả người Thủy như được nhuộm bằng ánh trăng. Bộ quần áo lụa vắt lên cành sim vít võng la đà. Hoàng hổn hển, râm ran. Còn Thủy thì níu kéo. Cơn vần vũ mây, trời, sông, nước; ánh trăng nhòe đi. Anh chìm dần, chìm dần vào đáy của hoan lạc.

... Bồng bềnh. Bỗng nhiên Hoàng mở mắt. Đêm xuống thật chậm. Hoàng hôn. Buồn. Cả ngày chống chọi với cái nắng lửa và những ven nước chảy bất ngờ cùng những đàn cá rỉa quanh người làm anh quên đi và thấy ngày trôi nhanh. Nhưng khi hoàng hôn buông xuống thì thật dễ sợ. Lúc này anh thấy mình nhỏ bé biết bao trước đại dương rộng lớn. Anh khóc, nước mắt nhòe với nước biển. Hoàng thảng thốt kêu lên: Mẹ ơi! con chết mất. Anh không còn sợ khát, sợ đói nữa! Mảnh lưới anh vớ được bất ngờ đã trở thành một cái bẫy săn cá chuồn. Chỉ cần đêm ập xuống, anh nằm ngửa trên phao giăng lưới lên thế nào cũng có chú cá chuồn dính. Có một khoảng trống vỡ vụn ra trong cơ thể anh ngày càng lớn. Lỗ hổng đó không gì lấp đi được. Hoàng gọi tên Thủy, gọi để nghe tiếng người, gọi để biết mình còn sống. Hoàng hôn dai dẳng, hút dần niềm hy vọng trong anh. Bóng tối phủ xuống; rồi những cơn mộng mị, chập chờn, rồi nỗi lo cá mập. Ban ngày Hoàng bơi đứng, đêm xuống anh mệt nằm nhoài trên vỏ phao ngời lóe lên ánh nước lân tinh dễ thành một thứ mồi ngon đánh động cho lũ cá mập. Có một lần Hoàng gặp cá mập. Nhưng anh rất may đó là loại cá mập hoa, chúng chỉ lượn vờn, lượn quanh, hít hít rồi lảng ra xa. Đầu Hoàng va nhẹ vào chiếc hộp xốp trắng. Anh mở ra trong đó có cái đài cát sét nhỏ lắp pin điện tử và băng dân ca do Thủy hát. Chiếc đài vẫn khô, anh ấn nút và chỉnh sóng. Một giọng hát trong vắt. 'Anh ơi! khoan vội bực mình. Em xin kể lại để anh nghe tỏ tường'. Và cái điệp khúc láy lại 'Giận thì giận mà thương càng thương' đã nạp cho Hoàng một nguồn năng lượng mới khi năng lượng của đôi pin cạn dần, cạn dần. Giọng Thủy nhỏ lại, rấm rứt. Hoàng nhắm mắt để cho âm thanh ấy còn vọng mãi, ngân mãi trong tâm trí. Một con sóng lớn bất thần phủ lên người anh hất chiếc đài ra xa. Anh chỉ còn nghe vọng lại hai tiếng 'thương' của Thủy rồi tất cả lịm dần trong sóng biển...

Tàu Hoàng nhổ neo đúng giờ chính ngọ sau khi các thùng đã đựng đầy nước khe Hao Hao. Trước khi chia tay, Thủy giúi cho Hoàng băng nhạc dân ca Thủy hát và can nước ngọt lấy từ đầu nguồn. Tàu ra khỏi cửa lạch, Hoàng bần thần cả người. Đám thủy thủ hớn hở bắt tay vào công việc. Chỉ có Hoàng như đánh mất một cái gì đó. Anh cáu kỉnh, lánh mặt với anh em trên tàu. Đến bữa, Hoàng ăn qua loa sau đó giao lại cho thuyền phó và lê bước về phòng mình mở đài nghe Thủy hát. Một đêm trôi qua. Sáng mai dậy, mắt Hoàng hõm sâu, miệng đắng ngắt. Ốm chăng? Không. Bao con mắt tò mò nhìn Hoàng như bóc ra từng mảng thịt. Cái mặc cảm tội lỗi cứ hành hạ anh, dày vò anh. Đến chiều thứ hai, mọi thao tác của Hoàng trở nên chậm chạp. Con tàu cũng bải hoải như anh. Sóng va mạnh vào thân tàu nghiêng ngả. Đám thủy thủ bỗng trở nên lầm lì, không khí trên tàu như vón cục lại, nặng nề. Sinh mạng của từng ấy mạng người và hàng trăm tấn quặng Emenhip đang nằm trong tay Hoàng. Đêm đó mệt quá anh ngủ gục trên vô lăng. Giấc ngủ xua đi bao ám ảnh làm cho anh nhẹ nhõm hơn. Đám thủy thủ sau khi thay nhau ném xuống biển hàng chục vỏ chai bia Vạn Lực giờ cũng đã gối lên nhau ngủ trong căn phòng chật hẹp. Máy đẩy chạy rì rì. Hoàng mơ thấy mình hóa thành một con cá bơn to đang ngậm cát lừ lừ tiến vào bờ. Và Thủy, hóa thành một con sứa giương ô lộng lẫy che nắng cho Hoàng. Nắng, nắng, nắng. Mặt nước nóng rẫy lên như đun sôi. Con sứa tan ra từng mảng. Nóng quá, Thủy ơi! Hoàng kêu lên. Tỉnh giấc, anh nhận ra chiếc la bàn trước mặt kim nhảy loạn xạ. Thì ra mũi tàu đã không chạy đúng hải trình mà chạy ra vùng biển quốc tế ở phao số không. Mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Bản tin thời tiết 5 giờ sáng báo cơn bão đổ bộ vào đất liền. Có tin bão khẩn cấp vào lúc 10 giờ đêm qua mà Hoàng không biết. Tàu anh đang đi vào hướng tâm bão. Anh giật chuông báo động. Đám thủy thủ chồm dậy ngơ ngác. Họ hoảng hốt. Phút chốc con tàu bốc lên không khí hoài nghi, vô vọng và bất lực. Với tốc độ này không thể về kịp đất liền trước khi bão đến. Bỗng nhiên Hoàng phát hiện thấy một tàu đánh cá treo cờ Trung Quốc đang chạy phía sau cùng chiều với tàu anh, tốc độ tàu đó lớn hơn. Anh vội cho hoa tiêu đánh tín hiệu cấp cứu. Tàu kia chạy chậm lại và phát tín hiệu hồi âm. Không thể bỏ xuồng cấp cứu, sóng sẽ đánh vỡ tan. Anh gọi đám thủy thủ vào buồng lái.

- Anh em! Hãy tha thứ cho tôi. Tôi là người có lỗi. Trước lúc nhổ neo tôi đã phạm luật biển. Tôi đã làm chuyện ấy. Tiếng xì xào nổi lên, những cặp mắt đỏ quạch vằn lên những tia máu, vồng ngực cuồn cuộn nắm tay gân guốc.

- Anh em! Bây giờ chuẩn bị rời tàu về nhà, gặp Thủy nhắn hộ tôi rằng: Cố nuôi lấy đứa con. Mai sau nó sẽ là một tài công, một tài công tài năng thật sự. Anh em! Hãy giúp mẹ con cô ấy, tội lắm!

Không khí trong khoang lái bỗng chìm xuống, đám thủy thủ lấy tay quệt nước mắt và quay mặt đi.

- Anh em! Không còn thời gian nữa, tất cả về mũi tàu!

Loáng thoáng Hoàng nhận được cái hôn chia tay vội vã lên má. Nhớ nhất là bộ râu của thằng Hùng sửa máy cứ cọ mãi vào Hoàng, nước mắt Hoàng nhòa sang mắt nó. Nóng hổi. Hoàng đánh vô lăng cho mũi tàu chạy sát va nhẹ vào mũi tàu đánh cá Trung Quốc. Không đầy mấy giây đám thủy thủ của anh đã bay sang đó. Anh chỉ còn thấy nhòe nhoè những cánh tay vẫy mãi, vẫy mãi và mất hút.

... Lại một đêm đầy mộng mị trôi qua. Cơ thể Hoàng héo dần. Bỗng nhiên người anh có một vật gì đó va vào, trơn nhẫy. Một con cá heo lạc bầy. Cuống quýt Hoàng ôm lấy cổ con cá. Miệng nó thở phì phì ngụp xuống, ngoi lên, dẻo như một diễn viên xiếc. Cá heo đưa anh lướt nhanh vào bờ.

...Nghe tin Hoàng bị nạn, Thủy gói gém đồ đạc ra tìm anh. Cô không quên mang theo lọ nước ngọt của khe Hao Hao lấy tận nguồn vào lúc tờ mờ sáng. Cô lần được tin tức về anh. Nghe nói anh đã dạt vào bờ được bà con làng biển đưa đi bệnh viện. Lúc Thủy đến, Hoàng đã nguy cấp lắm. Nhìn anh nằm trên chiếc nệm ga, cô không kìm nổi nước mắt. Lẽ nào một chàng trai thủy thủ vạm vỡ như thế bây giờ giống như một đứa trẻ con nhỏ thó chỉ còn da bọc xương. Cái đầu trọc lốc như một ông già. Bác sĩ đang truyền dịch cho anh. Anh yếu lắm, mạch chìm dần, huyết áp giảm. Thủy bước lại gần anh. Hoàng vẫn mê man. Cô hỏi bác sĩ. Ông khẽ lắc đầu. Y học đã bó tay không còn cách gì cứu được anh ấy khỏi vòng tay tử thần. Bỗng nhiên Hoàng mấp máy môi: Nước, nước, Hao...Hao. Bác sĩ nhìn anh ngơ ngác. Thủy hiểu ra, cô lấy từ trong túi chiếc lọ đựng nước trong vắt. Bác sĩ ngăn lại. Cô nói: Thế nào anh ấy cũng không sống được, cho cháu làm phúc cho anh ấy lần cuối cùngggg. Bác sĩ lắc đầu: Tội nghiệp!!!! Thủy khẽ lấy chiếc thìa bón cho anh từng giọt. Gương mặt của Hoàng bỗng sáng lên. Mí mắt khẽ chớp chớp. Từ đôi môi sưng vều của anh thốt lên: 'Thủy !' Anh ấy sống lại rồi, phải sống anh Hoàng ơi! Bác sĩ cúi xuống bên anh. Ông ngạc nhiên sửng sốt: Mạch nổi hẳn rõ nhịp tim đập tuy còn yếu ớt, huyết áp bắt đầu tăng. Cậu ấy đã sống. Ông tháo cặp kính cận lau rồi bất giác thở dài.

Khi nghe kể lại câu chuyện này tôi về khe nước Hao Hao bốc lên từng nắm cát và soi dưới ánh mặt trời. Những tinh thể cát anh ánh vẩy bạc như một thứ quặng quý. Tôi nếm cát. Một vị ngọt tan dần vào cơ thể tôi. Vị ngọt này tôi chưa bao giờ được nếm, hay đã được nếm mà tôi đã quên. Không phải như vị ngọt sắc hóa chất của đường, hay vị ngọt the của mía. Nó vừa ngọt lịm, vừa mát, đánh thức trong tôi bao ký ức đã qua và khao khát một niềm tin vô hình nào đó. Cả đồi sim dạt vào tôi như một lũ trẻ. Dưới chân núi cạnh khe Hao Hao có hai dáng người dìu nhau đi về phía tảng đá khuất sau hai hòn đá chông chênh mà thiên nhiên đã khéo tay tạo hóa gọi là: Đá ông, đá bà.