Ngôn ngữ Nga bồi đắp tình yêu nước Nga

Thiều Hoa

Học cấp 3, Tiếng Nga không khá, vẫn quyết định thi khoa Nga Đại học Ngoại ngữ, nhưng không hề liều lĩnh, bởi từng trang sách, từng câu chuyện kể của bố về đất nước của Lê-nin vĩ đại đã ngấm vào người từ lâu. Đăng ký thi khoa Nga là cách được biết về nước Nga nhiều nhất. Việc chọn nghề của cô Đặng Hoài Phương, giáo viên môn tiếng Nga của Trường THPT năng khiếu Trần Phú đơn giản như vậy.

Ra trường 2 năm, năm 1985, cô Phương về dạy tiếng Nga tại trường PTTH Nguyễn Đức Cảnh (Tú Sơn - Đại Hợp - Kiến Thuỵ). Cô và một giáo viên khác là những người đầu tiên "đưa môn ngoại ngữ về trường nông thôn". Cũng vì thế, giờ học của cô gợi hứng thú cho cả phụ huynh học sinh. Nhiều hôm, cô đứng trên bục giảng, trò ngồi trong lớp nghe, phụ huynh cả làng đứng kín ngoài cửa lớp "nghe nhờ". "Thấy mừng mà cũng run lạ"- cô Phương tâm sự. 3 năm dạy học đầu tiên, mỗi buổi giảng bài đều mới như lần đầu. Nhìn những ánh mắt chăm chú trong và ngoài lớp, cô chỉ muốn rút hết tâm can mình. Không chỉ là vài câu chào hỏi, vài lời làm quen bằng tiếng Nga, mỗi bài học là những câu chuyện cô biết về nước Nga. Từ chuyện nước Nga một ngày bốn mùa, đến chuyện gặp những người Nga nhân hậu trên xe buýt, tàu điện ngầm, sẵn sàng mời nhau thưởng thức những món ăn, nói chuyện thân thiện, dù có thể không khi nào gặp lại nữa, đến chuyện những bông tuyết đầu mùa, chuyện về những bức tượng ở Lê-nin-grát, chuyện đi bảo tàng, khung cảnh "rừng trong phố" ở thủ đô, cảnh lá vàng rơi trong công viên... Năm thứ tư đại học được sang Nga bỗng trở thành vốn ký ức sống động để cô "tặng lại" các học trò thôn quê chưa từng một ngày đặt chân lên nước Nga. Và điều đó lại được biến thành những dòng văn bằng tiếng Nga lấp lánh, dạt dào tình cảm trong bài thi giật giải ba môn tiếng Nga cấp thành phố năm 1986 - một giải thưởng có thể chưa cao với học sinh thành phố, nhưng là niềm tự hào không nhỏ với học sinh ngoại thành hồi đó.

Nhìn lại quãng thời gian 10 năm làm việc tại Trung tâm phương pháp (thuộc Sở Giáo dục - đào tạo), mà với nhiều giáo viên có thể coi là bước lùi trong nghề dạy học, cô Phương cười rất tươi: "May mà mình có thêm 10 năm tích luỹ phương pháp giảng dạy". Rồi cô liệt kê hàng loạt công việc làm được trong thời gian đó: nào là hướng dẫn phương pháp dạy ngôn ngữ cho đối tượng học sinh cấp 1, cấp 2, nào là đối chiếu với phương pháp dạy tiếng Nga, nào là lên lớp dạy thị phạm... Chưa hết, trong thời gian đó, cô cũng kịp hoàn chỉnh thêm văn bằng 2 Đại học Quốc gia Hà Nội môn Anh văn - ngoại ngữ 2 mà cô từng học ở trường. Lý do thật đơn giản: chỉ là học ngoại ngữ 2, nhưng bỏ cũng phí. Vả lại, "bố mình chỉ tự học tiếng Anh mà đọc báo, nghe đài được, lẽ nào mình không thừa hưởng được tí năng khiếu nào?!". Chuyện học hành, phấn đấu luôn được cô Phương giải thích giản đơn như thế với tiếng cười trẻ trung luôn xuất hiện. Nhưng tôi biết, vẻ ngoài mảnh mai đó không hề giống với những cố gắng vì học trò của cô.

Về trường THPT năng khiếu Trần Phú năm 1998, cô chỉ thực sự bắt tay với chuyên môn cũ vào năm 2000, sau 2 năm giảng dạy môn tiếng Anh. Không phải cuộc bắt tay suôn sẻ như giáo viên dạy môn khác, bởi lẽ, vào thời điểm đó, môn tiếng Nga còn chưa được nhiều học sinh ưa thích. Hồi đó, học sinh vào lớp chuyên Nga chỉ cần viết đơn đăng ký để xét đầu vào, và điểm vào cũng thấp nhất trường. Tâm lý không mặn mà là trở ngại lớn nhất với cô giáo trẻ. Nhiều hôm, cô ra bài, học sinh không muốn làm. Cô hỏi, học sinh không muốn trả lời. Nhiều em học mà nản, không tin có thể đỗ đại học. Dù vậy, nói về giai đoạn đầu tiên đó, cô Phương cũng chỉ cười: "Hồi đó vừa dạy vừa dỗ đấy". Tôi cười, phục cô "dỗ" khéo quá, bởi ngay khoá đầu tiên, tỷ lệ tốt nghiệp đại học lớp cô cao "chóng mặt": 25/27 học sinh (con số thực tế là 25/26, một học sinh đi du học vào năm lớp 11). Tôi cũng không tin là chỉ bằng cách chấp nhận cho học sinh được phép nói sai trong 2 tháng đầu mà không khí học tiếng Nga ở lớp cô Phương mạnh dạn, hào hứng lên trông thấy. Tôi hiểu, dù cô không nhấn mạnh phần "dạy" của mình, nhưng những gì cô làm vì học sinh, có lẽ không hề ít. Đó là những ngày cô lên Hà Nội, tìm gặp lại thầy cũ, bạn cũ, mượn các tài liệu mới nhất. Đó là nhiều đêm ở nhà, cô phải mày mò chuyển dịch từ bài tập tiếng Anh trong các tài liệu, giáo trình đang rất phổ biến trên thị trường, sang bài tập tiếng Nga, rồi cân đối "liều lượng", nội dung cho phù hợp. Bởi tiếng Nga những năm đó không nhiều tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, càng không có nhiều dạng bài tập để giáo viên dễ dàng soạn bài. Kiến thức tích luỹ từ những năm học đại học, kiến thức từ những năm nghiên cứu phương pháp giảng dạy ngôn ngữ, kiến thức bổ trợ từ môn tiếng Anh... tất cả được huy động. Và lẽ tất nhiên, không thể thiếu niềm yêu thích tiếng Nga, tình yêu nước Nga từ nhỏ mà cô được nhận từ người cha từng công tác tại Học viện chính trị Mát-xcơ-va, từ những tác phẩm văn học kinh điển của Nga, cả những kỷ niệm hồi cô học ở Nga. Có lẽ không nhiều giáo viên ngôn ngữ chịu mày mò vẽ hình, làm sơ đồ, phác thảo về nước Nga như cô Phương. Trong túi một cô giáo dạy ngoại ngữ mà lủng củng bút chì, phấn, thước, giấy khổ to..., hệt dân kiến trúc chính hiệu. Bởi cô cần giúp học sinh hình dung rõ rệt về bài học, có thế học sinh mới say mê và nhớ lâu. Cũng chỉ giờ học tiếng Nga của cô Phương mới có thêm hệ thống bảng biểu, từ đó, những hình ảnh về nước Nga mà học sinh Việt Nam chưa thấy bao giờ như chiếc tàu điện ngầm, ô-tô điện... lần lượt hiện rõ. Thậm chí, bài học về tuyết không chỉ là "xem trên ti-vi", mà phải tường tận mọi góc cạnh về tuyết: kỷ niệm lần đầu thấy tuyết rơi, cảm giác thích thú chạy trong tuyết "ấm", vẽ lên tuyết, chuyện tuyết trắng mà không sạch...Cũng chuyện dạy, nhưng không chỉ của cô, mà còn có cả học sinh tham gia. Đó là việc cô khuyến khích học sinh tìm kiếm thông tin về tiếng Nga qua mạng, rồi cô trò cùng chụm đầu bàn soạn, cùng tìm ra cách tiếp cận ngôn ngữ dễ hiểu nhất, cập nhật thông tin nhanh nhất. Không rõ vì cô yêu tiếng Nga, hay vì cô yêu học sinh và được học sinh yêu mến, nhưng kết quả học tập của lớp tiếng Nga rất đáng nể: Khoá học 2000-2003: 8 giải quốc gia (4 giải ba, 4 giải khuyến khích); khoá 2003-2006: 8 giải quốc gia (1 giải nhất, 4 giải nhì, 2 giải ba và một giải khuyến khích).

Nhìn dáng người mảnh dẻ, nhẹ nhàng và gương mặt luôn bừng sáng nụ cười, thật khó tin cô dễ dàng vượt qua khó khăn của cái buổi đầu "vừa dạy vừa dỗ". Nhưng nhìn ánh mắt sáng lên mỗi khi được hỏi về nước Nga, tôi biết, chính ấn tượng về đất nước và con người Nga là nguồn cảm hứng lao động không miệt mài trong cô. Ấn tượng đó, có từ những quyển truyện dịch của Nga cô đọc hồi nhỏ, từ những câu chuyện mà bố cô mang về từ nước Nga, và cả những trải nghiệm khi cô học tập trên đất Nga. Và cô lại bồi đắp tiếp tình yêu đất nước đó cho các thế hệ học trò, qua một trung gian đáng tin cậy: ngôn ngữ Nga./.