Nghĩ suy từ mùa Thu cách mạng
Tuỳ bút của Lưu Văn Khuê
Đâu phải vậy, thiên nhiên kia dẫu có vô tình thì thiên nhiên cũng vẫn sống với người, người thổi hồn cho sông núi: Nguyễn Khuyến buồn - thu ấy có vui đâu, còn cũng thu - giữa vất vả gian lao nơi rừng sâu Việt Bắc, trong lòng vui Bác Hồ viết thơ vui:
Bàn việc canh chầy mới tạm ngơi
Gió mưa thu báo lạnh thu rồi
Còi thu bỗng rúc vang từng núi
Du kích về thôn, rượu chửa vơi.
Cách mạng tháng Tám mùa Thu, ta đổi đời từ đấy; cũng từ đấy ta nặng lòng nghĩ suy mỗi độ thu về.
Nghĩ đến cha ông hồi đất nước đắm chìm trong nô lệ, trăm câu thơ buồn nỗi buồn thiên cổ, “trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày” (Chế Lan Viên), có mùa thu mà tưởng chừng không có mùa thu.
Nghĩ về một ngày thu nào đó trên đất khách quê người heo heo gió rét, tuyết sắp rơi, những dòng sông co mình ớn lạnh, tuyết Ba Lê rồi băng giá Luân Đôn; ngồi viết báo Bác nhớ đến nao lòng những ngày thu đất nước nắng tràn. Nghĩ về ngày giá rét xứ người, Đảng thành lập, đang mùa xuân mà đã thấy mai sau sẽ Tháng Tám mùa Thu đỏ màu cờ cách mạng. Nghĩ về ngày Bác đọc Tuyên ngôn, xe đưa Bác đến quảng trường giữa hai hàng xe đạp; trong “Tuần lễ vàng” chắc Bác rất buồn vì không có vàng để góp, Bác chỉ còn cách nhịn ăn mỗi tuần một bữa để góp gạo cùng nhân dân chống đói.
Nghĩ đến những chiến sĩ lấp lỗ châu mai, lấy thân làm giá súng đánh trận Điện Biên, lúc ấy đang vào hè, còn rất lâu mới đến mùa thu, nhưng trong trái tim các anh sục sôi bầu máu nóng với niềm tin vào mùa thu như mùa Thu rực nắng Ba Đình năm 1945 đang tới rất gần. Nghĩ đến anh chiến sĩ Giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất với dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ, như năm ấy mùa Thu Bác đọc Tuyên ngôn tạc hồn nước vào đất trời, sông núi.
Nghĩ lúc người thợ đau lòng rời nhà máy, người nông dân xót xa trước cách đồng làng, họ tìm đường đi để tự cứu lấy mình - những ngày đầu đổi mới ấy vô cùng chập chững, nhưng vững vàng niềm tin vào tương lai như niềm tin thuở ban đầu cách mạng.
Và bây giờ, niềm tin ấy là đây, ta đứng giữa mùa Thu nắng hồng, trời xanh, mây trắng; Bắc Nam liền một dải, lưng tựa Trường Sơn, tay vươn tận Trường Sa; những nhà máy thuỷ điện ầm ầm tuôn thác nước, đỏ lửa trùng khơi những tháp khoan dầu, Đường Hồ Chí Minh qua vạn đỉnh non cao cùng dòng điện vắt ngang trời hùng vĩ, những chiếc cầu vươn qua dòng sông rộng, những thành phố nguy nga chất ngất nhà cao, điện vượt núi, băng ngàn lên tận bản cheo leo...
Ta đi đây hôm nay suốt các phố phường, qua những dòng sông, tới những chốn mùa Thu sáng màu sắt thép, tới những nơi ruộng vườn mùa Thu tươi mướt nắng, tới cả chỗ đầu sông, cuối biển ngun ngút hơi sương nên mùa Thu tựa hồ như có lại như không; ta đi, nghe khắp nơi râm ran tiếng nói, tiếng cười, chuyện đào sông, vật đất, chuyện công trường, xưởng thợ, những trăn trở, suy tư – có niềm vui và dĩ nhiên không tránh khỏi nỗi buồn, chỉ biết tận sâu xa ở mỗi con người đều nung nấu bao nhiêu khát vọng, những khát vọng làm ta nghĩ suy.
Ta nghĩ đến ngày mai xoá hết đói nghèo, đường phố khang trang, nông thôn thêm nhà mới, trẻ thêm trường học và chốn vui chơi, già thêm nơi nghỉ ngơi, an dưỡng, trai gái thêm những nơi nên thơ để hò hẹn cùng nhau; ta nghĩ ngày mai nước mạnh, dân giàu.
Và Hải Phòng của ta!
Nhớ Tháng Tám mùa Thu ngày ấy, thuở đoàn Giải phóng quân từ chiến khu tiến về thành phố, những người nông dân đòn xóc, đòn càn xông vào phủ huyện; nhớ đoàn Vệ quốc quân lên đường Nam tiến... Ôi, mùa Thu thiêng liêng, Tháng Tám hào hùng!
Nhớ ngày 13 tháng 5 năm 1955, ngày giải phóng, cờ và hoa rực rỡ phố phường; vui gặp nhau đến tuôn trào nước mắt. Năm ấy mùa Thu bao sáng trong.
Nhớ những ngày bom rơi, đạn nổ, thành phố Cảng kiên cường, trung dũng, những hải đảo như chiến hạm không bao giờ đắm. Ơi mùa Thu, xanh xanh ngắt trời Thu.
Nhớ sao ngày 30 tháng 4 năm 1975 cả nước sum vầy, Hải Phòng trong niềm vui tràn ngập. Năm ấy mùa Thu bao suy tưởng và bao ước mơ.
Ngày hôm nay, đất nước sang trang, thành phố Hải Phòng cửa biển sang trang – công sức của bao thế hệ, bao con người, bao ngày đêm, nhất là 20 năm của thời kỳ đổi mới. Những nhà máy nối nhau dọc đường cao tốc, con đường rộng thênh thang năm nào đã đến lúc không đủ cho tầm vóc ngày mai, dù quốc lộ 5 đã vươn tới tận cùng Đình Vũ, dù con phà đưa Cát Hải, Cát Bà xa xôi đã trở nên gần, dù quốc lộ 10 giờ không bị cách trở bởi những dòng sông, dù đường tới Đồ Sơn đã nên phố nên phường. Những con tàu vạn tấn nối nhau rời nhà máy, cánh hải âu hồ hởi lướt trên boong, sóng đại dương náo nức thân tàu. Những chiếc cầu nối bao miền xa lạ.