Nghị quyết số 20-NQ/TW: Bước chuyển đột phá về triết lý phát triển và quản trị không gian biển
Trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy phát triển kinh tế ngành thuần túy sang tư duy phát triển gắn với quản trị tổng hợp không gian biển quốc gia, đa chiều, đa tầng nấc được nêu tại Nghị quyết. Đây là điểm mới cốt lõi, là bước chuyển rất quan trọng, có tính đột phá nhất về triết lý phát triển và quản trị không gian biển.
4 mặt mạnh cốt lõi cần làm chủ
Thưa PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, ngày 28/7/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 20-NQ/TW). Theo ông, đâu là những nội dung cốt lõi, quan trọng và có tính đột phá nhất của Nghị quyết? Việc ban hành và triển khai thực hiện trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của đất nước?
- Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc tự chủ chiến lược, bao gồm không gian biển được Trung ương quan tâm đặc biệt, hướng tới xây dựng một quốc gia biển mạnh, phù hợp với lợi thế vượt trội của một Việt Nam “ba phần là biển”. Trong Nghị quyết số 20-NQ/TW, cụm từ “quốc gia biển mạnh” vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược, vừa là đích đến, vừa là nhiệm vụ bao trùm và giải pháp cấp bách. Có thể nói, nội dung của Nghị quyết đã được đề cập một cách toàn diện, tổng thể, cụ thể và có tính khả thi.

Theo đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW yêu cầu phải chuyển từ tư duy phát triển kinh tế ngành thuần túy sang tư duy phát triển gắn với quản trị tổng hợp không gian biển quốc gia, đa chiều, đa tầng nấc. Đây là điểm mới cốt lõi, là bước chuyển rất quan trọng, có tính đột phá nhất về “triết lý phát triển và quản trị không gian” sau hợp nhất nói chung và không gian biển nói riêng. Bởi, biển không chỉ là nơi tiềm chứa và khai thác tài nguyên riêng rẽ của từng ngành mà là một không gian liên thông, đa dụng, tiền đề cho phát triển đa ngành, đòi hỏi phải quản trị liên ngành và thống nhất quản lý về mặt nhà nước. Nói cách khác, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “khai thác biển” theo ngành sang “kiến tạo sức mạnh biển” theo không gian để biển vừa là động lực tăng trưởng mới, vừa mở rộng thêm không gian biển mới, củng cố việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia từ sớm, từ xa, từ sâu.
Và, để trở thành “quốc gia biển mạnh” thì Việt Nam phải phấn đấu làm chủ được 4 mặt mạnh cốt lõi, bổ sung cho nhau, bao gồm mạnh về thể chế, chính sách để quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; mạnh về trình độ và khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ (KHCN) biển tiên tiến, hiện đại; mạnh về kinh tế biển, phát triển theo hướng xanh, hiệu quả và bền vững; và mạnh về quốc phòng, an ninh biển, đảo để duy trì một môi trường hòa bình, bảo vệ vững chắc các quyền và lợi ích biển quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển 1982 (UNCLOS). Vì thế, việc ban hành và triển khai thực hiện thành công Nghị quyết số 20-NQ/TW trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa tự chủ chiến lược, góp phần quyết định sự phát triển bền vững đất nước.
Phải xem thể chế là động lực mở đường
Nghị quyết số 20-NQ/TW đã nêu rõ nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh. Ông đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của nhiệm vụ này và giải pháp thực hiện là gì, thưa ông?
- Không gian biển có những đặc thù rất khác đất liền, đó là đa chiều, đa tầng, trong đó không gian ngầm dưới đáy biển và lòng đất dưới đáy biển có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nhiều rủi ro, đòi hỏi suất đầu tư lớn và trình độ công nghệ cao. Nhất là, các hoạt động trong không gian ngầm dưới đáy biển và khai thác lòng đất dưới đáy biển ở nước ta vẫn còn gặp khó khăn liên quan đến một số khoảng trống pháp lý. Đất nước ta đứng trước yêu cầu mới theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW, như giảm phát thải carbon, phát triển kinh tế biển xanh, tuần hoàn, chuyển đổi sang năng lượng biển tái tạo, phục hồi hệ sinh thái biển và thích ứng với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương.
Bên cạnh đó, một số ngành, nghề kinh tế biển mới có xu hướng phát triển nhanh, mạnh, như điện gió biển ngoài khơi, nuôi thủy sản trên biển (nuôi biển) công nghệ cao, dược liệu biển, nghề cá giải trí, logistics biển, du lịch biển chất lượng cao, đô thị biển và kinh tế biển sâu. Điều này đòi hỏi khung pháp lý phải được cập nhật và hoàn thiện theo hướng hiện đại, tích hợp và thích ứng linh hoạt. Đồng thời, phải xem thể chế là động lực mở đường cho phát triển kinh tế biển đột phá và quản trị thống nhất không gian biển quốc gia.
Luật pháp thời gian tới cần bổ sung, quy định rõ hơn các nội dung liên quan đến kinh tế biển xanh, kinh tế biển sâu; đến quản lý/quản trị tổng hợp và thống nhất không gian biển bằng cách tiếp cận dựa vào hệ sinh thái; phục hồi hệ sinh thái biển - ven biển, đảo; xử lý những chồng chéo về quản lý tổng hợp vùng bờ với quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ, thậm chí cả với quy hoạch không gian biển ở vùng bờ. Đồng thời, đổi mới cơ chế, chính sách với độ mở thích hợp và tiết giảm thủ tục hành chính để phát triển thực chất các ngành/nghề kinh tế biển mới, cũng như khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp và cộng đồng cư dân địa phương.
Theo đó, cần rà soát chồng chéo, “nút thắt” thể chế và sửa đổi, bổ sung để hình thành một Bộ luật cơ bản về biển của Việt Nam, không bao gồm luật ngành về hoặc liên quan đến biển. Bộ luật cơ bản về biển Việt Nam có thể gồm Luật Biển Việt Nam, Luật Sử dụng biển và hải đảo, Luật Bảo vệ môi trường biển và hải đảo, Luật Bảo tồn biển, Luật Khoa học và Công nghệ biển. Bộ luật này làm cơ sở để Chính phủ tiến hành điều chỉnh các luật pháp ngành, xây dựng các công cụ pháp lý như nghị định, thông tư… và các hướng dẫn kỹ thuật như hướng dẫn Quy hoạch không gian biển, Phân vùng chức năng biển… để triển khai linh hoạt, xử lý kịp thời các mối quan hệ trên biển và giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng không gian biển để phát triển kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Trong đó, cần xem xét, kiện toàn mô hình thể chế quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển đảo; mô hình phối hợp đa ngành trong quản trị không gian và tuần tra biển; chính sách thu hút đầu tư và tạo cơ hội cho doanh nghiệp (ưu tiên tự chủ chiến lược) tham gia khai thác biển; ưu tiên phát triển một số ngành kinh tế biển mới như nói trên.
Tự chủ chiến lược biển, chuyển mạnh từ khai thác ven bờ ra phát triển kinh tế biển sâu cũng đòi hỏi phải đổi mới tư duy và nâng cao chất lượng quy hoạch không gian biển (sau đây gọi tắt là quy hoạch). Quy hoạch phải dựa trên nền tảng dữ liệu biển đủ mạnh như dữ liệu điều tra cơ bản, thông tin khoa học thực đo, sức chịu tải của môi trường và giá trị của từng hệ sinh thái… Cùng với đó, xây dựng và triển khai hiệu quả quy hoạch không gian biển để hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và các mục tiêu xã hội, qua đó tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển bền vững.
Mỗi quyết định phân bổ không gian biển cần được xem xét trong quan hệ tổng thể giữa lợi ích kinh tế, môi trường, xã hội, quốc phòng và an ninh. Do quy hoạch hiện chỉ tiến hành ở cấp quốc gia theo quy định của Luật Quy hoạch 2017, nên cần trao cho 21 tỉnh, TP có biển công cụ “Phân vùng chức năng” để cụ thể hóa, hiện thực hóa quy hoạch không gian biển quốc gia trên địa bàn của địa phương.

Khoa học - công nghệ phải trở thành trụ đỡ
Một nhiệm vụ quan trọng khác được nêu tại Nghị quyết số 20-NQ/TW là phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao; triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, mô hình và ngành, lĩnh vực biển mới. Tập trung triển khai nghiên cứu và ứng dụng về KHCN biển. Ông có thể cho biết ý nghĩa của quyết sách này?
- Cần lưu ý rằng, tiềm năng và lợi thế tự nhiên chỉ là điều kiện cần, yếu tố quyết định vị thế quốc gia biển lại nằm ở năng lực thể chế, quản trị liên thông không gian biển và trình độ công nghệ biển. Chuyển mạnh từ khai thác ven bờ, nơi đang chịu sức ép lớn từ biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người, khiến tài nguyên ngày càng suy giảm, sang phát triển kinh tế biển sâu đòi hỏi Việt Nam phải tạo được bước đột phá về tự chủ KHCN biển, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI).
Cùng với thể chế, KHCN phải trở thành trụ đỡ cho mọi hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý/quản trị biển. Biển xa, biển sâu là không gian phát triển mới của Việt Nam, nhưng cũng là nơi đòi hỏi trình độ khoa học, khả năng can thiệp của công nghệ và suất đầu tư rất lớn. Không thể quản lý hiệu quả vùng biển rộng lớn bằng những phương thức và cách tổ chức ra biển thiếu gắn kết, thiếu liên thông và không phối hợp để vượt qua những rủi ro thiên tai và nhân tai trên biển.
Do đó, cần đầu tư mạnh và cấu trúc lại công tác điều tra cơ bản biển theo đúng nghĩa của nó; xây dựng, quản lý thống nhất, hiệu quả cơ sở dữ liệu biển quốc gia; phát triển hệ thống quan trắc biển tự động. Ứng dụng AI, dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ viễn thám và mô hình số để giám sát tài nguyên, môi trường, dự báo thiên tai và nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, quản lý tàu thuyền và hỗ trợ quá trình ra quyết định.
Bên cạnh phát triển KHCN, thì phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao cũng được Trung ương xem là khâu đột phá. Không thể xây dựng quốc gia biển mạnh nếu thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về công nghệ biển, hải dương học, quy hoạch không gian biển, năng lượng ngoài khơi, luật biển quốc tế, kinh tế biển và quản trị tổng hợp đại dương. Nguồn nhân lực không chỉ được đào tạo từ các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, mà còn từ doanh nghiệp gắn với thực hành, bao gồm các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ biển hiện đại được hình thành mới ở một số địa phương có biển.
Ngoài ra, phát triển nguồn nhân lực biển còn thông qua tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế; thúc đẩy liên kết giữa viện, trường, doanh nghiệp và Nhà nước để nhanh chóng chuyển giao các tiến bộ KHCN vào thực tiễn sản xuất và quản lý gắn với đào tạo kỹ năng cho nguồn nhân lực biển.

Kết quả phải được lượng hóa, có thể kiểm chứng
Đâu là vấn đề cần lưu ý nhất khi triển khai thực hiện Nghị quyết này, thưa ông?
- Tôi cho rằng, trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển sau hợp nhất đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng địa giới của các tỉnh, TP có biển mà phải biến sự thay đổi đó thành lợi thế phát triển thực sự. Chỉ khi phát huy được sức mạnh tổng hợp của không gian lãnh thổ mới, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính mới thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế biển trong dài hạn. Phát triển bền vững kinh tế biển trong kỷ nguyên mới không chỉ là câu chuyện khai thác thêm một nguồn tài nguyên hay mở thêm một ngành kinh tế biển, mà là quá trình kiến tạo mô hình kinh tế mới gắn với triết lý phát triển không gian biển mới.
Theo đó, biển được quản trị như một không gian thống nhất, liên thông giữa kinh tế và an ninh, chủ quyền; thể chế trở thành động lực phát triển; khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của tăng trưởng; con người là trung tâm của mọi chính sách; còn bảo tồn thiên nhiên được xem là đầu tư cho tương lai xanh, bền vững.
Để hiện thực hóa chủ trương trên, có lẽ “điểm nghẽn” lớn nhất nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Như tôi đã nói trên, Nghị quyết đã nhận diện đúng, trúng các vấn đề cần giải quyết để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phù hợp với bối cảnh của kỷ nguyên vươn mình. Tuy nhiên, quá trình triển khai thiếu sự liên kết, tính đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực, cũng như thiếu các giải pháp khả thi và sản phẩm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thì Nghị quyết vẫn có thể không đi vào được cuộc sống.
Vì thế, cùng với xây dựng và ban hành Nghị quyết, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Chương trình hành động, xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống chính trị để tiếp tục chỉ đạo thực hiện ở cấp độ cụ thể hơn. Mọi nhiệm vụ đều phải thực hiện theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ tiến độ và rõ địa chỉ thực hiện. Các kết quả phải được lượng hóa, có thể kiểm chứng và gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Đây là bước đổi mới quan trọng, thể hiện quyết tâm đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống bằng những kết quả cụ thể, có tác động thực thụ, tạo ra sự bứt phá của kinh tế biển và quản trị biển.
Trân trọng cảm ơn ông!