Nghị Quyết của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển giáo dục mầm non thành phố Hải Phòng đến năm 2015, định hướng 2020

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân; vì vậy có vị trí rất quan trọng, tạo nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, giáo dục mầm non của thành phố đã có sự phát triển. Trên cơ sở đề ra một số cơ chế, chính sách hỗ trợ giáo dục mầm non ở khu vực ngoại thành, cùng với xây dựng các mô hình điểm trong hoạt động chuyên môn, đóng góp nhiều kinh nghiệm về đổi mới nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ, Hải Phòng đã được đánh giá là một trong những địa phương thực hiện tốt sự nghiệp phát triển giáo dục mầm non.

 

Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây cho thấy giáo dục mầm non còn rất nhiều khó khăn, bất cập dẫn đến những hạn chế, yếu kém và bức xúc trong xã hội; đặt ra yêu cầu cần thiết phải có những chủ trương, giải pháp, tạo điều kiện để giáo dục mầm non thành phố ổn định và phát triển, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững của thành phố đến năm 2020.

 

I- ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHUNG

1- Ưu điểm

Những năm qua, giáo dục và đào tạo Hải Phòng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững vị trí tốp đầu cả nước; trong đó có những đóng góp không nhỏ của giáo dục mầm non. Với quy mô ngày càng mở rộng, đa dạng hoá các loại hình theo Luật Giáo dục, tỷ lệ trẻ em đến các cơ sở giáo dục mầm non ngày càng tăng cao. Chất lượng chăm sóc, giáo dục không ngừng được cải thiện, góp phần làm giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, từng bước đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Cơ sở vật chất, thiết bị được quan tâm đầu tư; tỷ lệ phòng học tạm, học nhờ, phòng học cấp 4 giảm dần. Tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia được nâng cao, từng bước xây dựng một số cơ sở theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, góp phần cải thiện chất lượng nuôi, dạy trẻ. Đội ngũ cán bộ, giáo viên được tăng cường và cơ bản được đào tạo, bồi dưỡng đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn.

2- Hạn chế, yếu kém

Quản lý nhà nước còn bộc lộ nhiều hạn chế, do đó công tác dự báo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cho giáo dục mầm non của ngành chủ quản, của chính quyền các cấp không được chú trọng, dẫn đến yếu kém.

Cơ sở vật chất hiện đang rất thiếu về số lượng, xuống cấp về chất lượng: số trường, lớp không đủ đáp ứng nhu cầu; hầu hết các cơ sở giáo dục mầm non công lập, nhất là khu vực trọng điểm ở nội thành, nội thị đều quá tải; phần lớn các phòng học diện tích nhỏ, không đạt chuẩn; số phòng học cấp 4 còn khá nhiều, một số phòng học đã xuống cấp nặng, thậm chí có nơi phải học nhờ, học tạm; tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia còn rất thấp so với tỷ lệ chung của cả nước.

Thiết bị phục vụ nuôi dạy trẻ vừa thiếu vừa lạc hậu. Mạng lưới trường lớp ở khu vực nông thôn còn phân tán, nhỏ lẻ, sử dụng kém hiệu quả; nhiều trường, lớp mầm non tư thục, nhóm trẻ gia đình tận dụng diện tích nhà ở nên ảnh hưởng lớn tới việc chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Chất lượng nuôi dạy trẻ giữa khu vực nội thành, nội thị với khu vực nông thôn và hải đảo không đồng đều; chất lượng nhiều cơ sở mầm non tư thục còn hạn chế.

Cán bộ, giáo viên còn thiếu về số lượng, một bộ phận cán bộ quản lý giáo viên năng lực, tay nghề yếu; chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non, nhất là khu vực nông thôn và giáo viên ngoài biên chế trong các cơ sở mầm non công lập chưa đồng đều, chưa động viên được giáo viên yên tâm công tác, dẫn đến tình trạng bỏ nghề trong thời gian qua.

3- Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

Về khách quan: giáo dục mầm non chưa được sự quan tâm đầu tư đúng mức của Nhà nước; cơ chế, chính sách không còn phù hợp, bộc lộ nhiều bất cập, thiếu công bằng, nhất là chính sách cho giáo viên mầm non ở nông thôn. Điều kiện kinh tế - xã hội của một số khu vực kém phát triển, mức thu nhập của người dân còn thấp, mức đóng góp có hạn nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của giáo viên. Một bộ phận cơ sở giáo dục mầm non ở các cơ quan, xí nghiệp trước đây đã bị thu hẹp do sự chuyển đổi cơ chế kinh tế. Cơ chế thị trường cùng với tốc độ đô thị hoá cao, sự di dân cơ học, dân số tăng... đã tạo ra áp lực lớn về nhu cầu gửi trẻ, dẫn đến tình trạng quá tải ở các trường mầm non khu vực nội thành, nội thị.

Về chủ quan: một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, trong đó có cả người dân đều chưa nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò rất quan trọng của giáo dục mầm non; trong cách nghĩ, cách làm chưa đổi mới, còn nặng về tư tưởng bao cấp, trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các sở, ngành liên quan chưa đúng mức. Kinh phí và tỷ lệ đầu tư kinh phí cho giáo dục mầm non còn thấp và chưa hợp lý giữa các bậc học và các loại hình giáo dục; ngân sách Nhà nước chủ yếu tập trung cho các trường mầm non công lập ở nội thành, nội thị trong lúc giáo dục mầm non nông thôn còn rất khó khăn. Chưa có cơ chế, chính sách thích hợp cho giáo dục mầm non, nhất là ở nông thôn cũng như cơ chế để thực hiện xã hội hoá giáo dục hợp lý nhằm thu hút nguồn lực đầu tư. Chưa quan tâm quy hoạch, dành quỹ đất xây dựng các cơ sở giáo dục mầm non; cơ chế đầu tư chưa phù hợp. Công tác tham mưu, chỉ đạo và phối hợp triển khai một số văn bản, quy định của Nhà nước ở một số cấp, ngành có biểu hiện hiểu và vận dụng thực hiện không đúng, thiếu kịp thời, không đồng bộ đã gây không ít khó khăn cho việc tổ chức nuôi, dạy trẻ và bảo đảm chế độ cho người lao động.

 

II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1- Quan điểm

- Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em. Cần quán triệt quan điểm coi đầu tư cho giáo dục mầm non là đầu tư cho phát triển chiến lược, lâu dài; cũng là đầu tư cho chiến lược con người nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố và đất nước.

- Phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân và toàn xã hội nhằm bảo đảm các quyền lợi của trẻ em, thực hiện tốt mục tiêu “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” và bảo đảm các mục tiêu về an sinh xã hội.

- Các cấp chính quyền và các ngành chức năng có trách nhiệm quản lý, tăng cường đầu tư cho giáo dục mầm non; hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ nhà giáo; đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non. Ưu tiên đầu tư cho các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo.

- Phát triển giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với điều kiện, xu hướng phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, của từng vùng miền, của mỗi địa phương trên nguyên tắc bảo đảm công bằng trong quyền được thụ hưởng giáo dục mầm non một cách toàn diện, khoa học, hiệu quả.

- Đổi mới toàn diện, mạnh mẽ giáo dục mầm non theo nguyên tắc bảo đảm sự đồng bộ, tiên tiến, phù hợp với đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn bị tốt cho trẻ vào bậc tiểu học và có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Mở rộng thường xuyên và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc phụ huynh, cộng đồng xã hội nhằm phối hợp, đa dạng hoá các phương thức chăm sóc, giáo dục trẻ em.

2- Mục tiêu chung

Phát triển giáo dục mầm non với qui mô và loại hình thích hợp trên mọi địa bàn dân cư­. Chuyển đổi loại hình giáo dục mầm non theo Luật Giáo dục trên cơ sở bảo đảm ổn định và phát triển, phù hợp với yêu cầu và điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố, bảo đảm công bằng giữa các loại hình giáo dục mầm non. Đa dạng hoá các ph­ương thức chăm sóc, giáo dục trẻ em; phấn đấu nâng tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đư­ợc chăm sóc, nuôi d­ưỡng, giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non. Từng bước đầu tư xây dựng trường mầm non đạt chuẩn, nâng cao chất lượng nuôi, dạy góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố và đất nước.

3- Mục tiêu cụ thể

- Phấn đấu đến năm 2015: nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục, nhất là khu vực ngoại thành, hải đảo; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 10%. Phấn đấu xoá phòng học tạm, học nhờ, phòng học không an toàn; cơ bản xoá phòng học cấp 4, từng b­ước kiên cố hoá trường lớp theo hướng chuẩn, hiện đại; phấn đấu có 30% trường mầm non đạt chuẩn. Chuyển đổi các tr­ường mầm non công lập, bán công sang thực hiện mô hình tự chủ tài chính phù hợp với yêu cầu thực tiễn trên cơ sở quy định của pháp luật. Xây dựng cơ chế đầu tư hợp lý, tăng tỷ lệ kinh phí từ nguồn ngân sách, thực hiện tốt xã hội hoá. Nâng tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến nhà trẻ lên 35%; tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến trư­ờng, lớp mẫu giáo 97%; có 20% cơ sở giáo dục mầm non dân lập, t­ư thục. Phổ cập trẻ 5 tuổi ra lớp mẫu giáo theo quy định của Luật Giáo dục (sửa đổi). Đào tạo đủ số lượng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên mầm non, phấn đấu 100% đạt chuẩn, trong đó có 55% đạt trình độ trên chuẩn. Nâng tỷ lệ cha mẹ có con ở lứa tuổi mầm non được tuyên truyền, áp dụng kiến thức, kỹ năng cơ bản về nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ đạt 95%; có 60% trường mầm non ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, dạy và học.

- Phấn đấu đến năm 2020: huy động, bảo đảm hầu hết trẻ em trong độ tuổi được hưởng lợi từ chương trình chăm sóc giáo dục mầm non có chất lượng dưới nhiều hình thức. Phát triển mô hình cung ứng dịch vụ giáo dục mầm non chất lượng cao; xây dựng các chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non; xoá xong phòng học cấp 4; có 50% trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. 100% cán bộ quản lý đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn trên chuẩn và tin học phục vụ được công tác quản lý. Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới 7%. Triển khai thực hiện và nhân rộng mô hình cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non tiếp cận với tin học và ngoại ngữ bảo đảm phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ em. 100% trường mầm non ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, dạy và học.

4- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

4.1- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của giáo dục mầm non

- Làm cho cả hệ thống chính trị và toàn dân nâng cao nhận thức và có trách nhiệm cao trong hành động, góp phần huy động sức mạnh của cả cộng đồng cùng tham gia phát triển giáo dục mầm non.                     

- Thường xuyên tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về  đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của thành phố đối với giáo dục mầm non, nhất là chủ trương xã hội hoá giáo dục. Nêu gương các điển hình tiên tiến, các tập thể và cá nhân làm tốt công tác phát triển giáo dục mầm non.

- Xây dựng và hoàn thiện mô hình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về các văn bản pháp quy liên quan đến giáo dục mầm non, về nội dung chăm sóc giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non, nhất là chương trình giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi; phổ biến kiến thức chăm sóc trẻ mầm non theo hướng xây dựng các chuyên đề nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ qua các phương tiện thông tin đại chúng của thành phố. Xây dựng các trung tâm tư vấn và mạng lưới tuyên truyền viên về lĩnh vực này.

4.2- Xây dựng cơ chế phù hợp để các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện mô hình tự chủ về tài chính; tạo điều kiện cho các trường mầm non phát triển theo hướng tự chủ có điều kiện thu hút các nguồn lực đầu tư hợp pháp, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ đáp ứng nhu cầu của nhân dân          

- Khuyến khích, tập trung phát triển các cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục và tăng cường công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật trong việc thực hiện chương trình, chế độ thu, chi... để cung ứng dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em chất lượng tốt và giảm khoảng cách về chất lượng giữa các trường dân lập, tư thục với các trường công lập.

- Thực hiện mô hình tự chủ tài chính toàn phần trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, bán công ở khu vực kinh tế - xã hội phát triển; mô hình tự chủ tài chính một phần ở các cơ sở giáo dục mầm non khu vực kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, kém phát triển.

4.3- Đẩy mạnh xã hội hoá và có cơ chế khuyến khích hỗ trợ các tổ chức, cá nhân, tăng cường hợp tác quốc tế để đầu t­ư phát triển giáo dục mầm non

- Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện về quỹ đất, về vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài n­ước, các doanh nghiệp đầu t­ư phát triển giáo dục mầm non, nhất là xây dựng các tr­ường mầm non dân lập, t­ư thục.

- Thu hút nguồn lực xã hội đầu t­ư thiết bị cho các cơ sở giáo dục mầm non để từng bư­ớc đạt chuẩn, nâng cao chất l­ượng nuôi, dạy trẻ. Khuyến khích phát triển các dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em đa dạng, nhất là cơ sở giáo dục mầm non chất l­ượng cao, trong đó có trường đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

- Khuyến khích các doanh nghiệp, công ty lớn chưa có trường lớp mầm non dành một phần kinh phí làm nguồn phúc lợi xây dựng và bảo đảm điều kiện hoạt động cho cơ sở giáo dục mầm non để tổ chức nuôi, dạy trẻ phù hợp với nhu cầu, điều kiện làm việc của người lao động tại mỗi đơn vị.

4.4- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non đủ về số l­ượng, bảo đảm chuẩn hoá về chất lượng; nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng, tay nghề đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non

- Tăng chỉ tiêu đào tạo giáo viên mầm non có trình độ trung cấp chính qui hàng năm; thực hiện đào tạo theo địa chỉ đồng thời có chính sách thu hút những người đã được đào tạo trở lại làm việc để có đủ nguồn bổ sung giáo viên đạt chuẩn cho các cơ sở giáo dục mầm non; bố trí đủ định biên giáo viên, nhân viên (bao gồm cả nhân viên y tế) để thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, nuôi dưỡng giáo dục trẻ.  

- Giải quyết về cơ bản các chế độ, chính sách cho giáo viên mầm non, bảo đảm chế độ lư­ơng và phụ cấp theo lư­ơng, chế độ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

4.5- Tăng cường nguồn lực tài chính và đầu tư cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục mầm non theo hướng kiên cố và từng bước chuẩn hoá, hiện đại hoá

- Nâng tỷ trọng đầu tư cho giáo dục mầm non, trong đó bảo đảm mức chi kinh phí thường xuyên hàng năm tăng thêm trong tổng kinh phí đầu tư cho hệ thống giáo dục và đào tạo. Thực hiện cấp ngân sách Nhà nước định mức trên đầu trẻ đến lớp để bảo đảm công bằng trong giáo dục mầm non.

- Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng để quyết định tỷ lệ kinh phí chi thường xuyên và cơ chế công trợ xây dựng cơ bản. Quyết định mức thu học phí theo quy định của pháp luật trên cơ sở định mức ngân sách chi thường xuyên trên đầu trẻ đến lớp; để ngân sách Nhà nước cùng với học phí phải bảo đảm cho giáo dục mầm non cân đối được thu - chi, góp phần tạo sự công bằng về giáo dục đối với tất cả trẻ em trong các trường mầm non không phân biệt loại hình giáo dục, công bằng trong thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ giáo viên; phù hợp với xu thế phát triển giáo dục mầm non, với khả năng cân đối ngân sách, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội từng vùng và điều kiện đóng góp của nhân dân.

- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất để từng bước có đủ trường, lớp đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em. Thực hiện đầu tư theo phương châm “thiết thực, tập trung, không dàn đều, làm đến đâu hiệu quả rõ đến đó”. Trước mắt, giải quyết dứt điểm số phòng học tạm, học nhờ, phòng học xuống cấp nặng, thiếu an toàn; từng bước xoá phòng học cấp 4 và bổ sung những phòng học còn thiếu; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá các trường, lớp mầm non xây mới. Ưu tiên hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy học cho các lớp mẫu giáo 5 tuổi khu vực nông thôn; tăng cường đầu tư các thiết bị công nghệ thông tin từ nguồn kinh phí chương trình, mục tiêu và nguồn vốn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân và gia đình học sinh để đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng dạy và học.

4.6 - Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non theo hướng tập trung, phù hợp với địa bàn dân cư

- Tiến hành quy hoạch mạng lưới trường, lớp mầm non, cơ bản bảo đảm mỗi phường, xã có ít nhất 1 trường mầm non đạt chuẩn.

- Đối với các cơ sở giáo dục mầm non khu vực ngoại thành cần đầu tư xây dựng thành 1-2 khu tập trung, tránh tình trạng phân tán, nhỏ lẻ, sử dụng kém hiệu quả cơ sở vật chất và thiết bị.  

- Đối với những khu vực đặc biệt khó khăn, cần đầu tư xây dựng các trường công lập, bảo đảm mọi trẻ em nghèo ở đó đều được học ở trường công lập.

- Khi quy hoạch cơ sở hạ tầng các dự án phát triển khu đô thị, các khu nhà chung cư phải bố trí quỹ đất, diện tích để xây dựng trường mầm non. Ưu tiên dành diện tích, quỹ đất và cơ sở vật chất của một số doanh nghiệp, cơ sở giáo dục khác khi thực hiện chuyển đổi hoặc sát nhập để xây dựng các trường mầm non.

4.7- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền; đề cao trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội và vai trò giám sát của từng cán bộ, đảng viên cũng như nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non

- Trên cơ sở nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, cộng đồng và mỗi người dân trong việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non, cần xác định nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non trong thời gian tới là một nội dung lãnh đạo, chỉ đạo trọng tâm, quan trọng của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp. Nghiên cứu, xem xét xây dựng các chỉ tiêu về phát triển giáo dục mầm non trong hệ thống chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của thành phố và các địa phương, đơn vị qua từng năm.

- Tập trung cải cách thủ tục hành chính; rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản trên cơ sở thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục mầm non phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

- Tăng cường giám sát, kiểm tra việc triển khai thực hiện các quy định trong hoạt động quản lý giáo dục mầm non, nhất là các trường mầm non dân lập, tư thục để bảo đảm quyền lợi cho trẻ em; tạo sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành chức năng trong công tác chăm lo phát triển giáo dục mầm non. Chú trọng chức năng giám sát của nhân dân trong quá trình triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non.

 

III - TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Đảng đoàn HĐND thành phố chỉ đạo ban hành Nghị quyết về giáo dục mầm non tại kỳ họp HĐND thành phố gần nhất để cụ thể hoá chủ trương này. Ban cán sự Đảng UBND thành phố chỉ đạo xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể; trong đó xác định rõ nội dung, mục tiêu, giải pháp, điều kiện bảo đảm để Nghị quyết được triển khai ngay trong quý 1 năm 2010.

2- Các cấp uỷ Đảng trực thuộc Thành uỷ, các ban của Thành uỷ, các Đảng đoàn, ban cán sự Đảng căn cứ tình hình, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị và kế hoạch của Uỷ ban nhân dân thành phố để cụ thể hoá thành các mục tiêu, nội dung, giải pháp lãnh đạo và triển khai thực hiện; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết.

3- Các ban, ngành, địa phương, đơn vị căn cứ nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch chi tiết để tổ chức thực hiện các nội dung, giải pháp, chương trình có liên quan đến ngành và địa phương mình, bảo đảm tiến độ và mục tiêu đã đề ra, phù hợp với chương trình, mục tiêu chung của thành phố.

4- Giao Ban Tuyên giáo Thành uỷ và Văn phòng Thành uỷ theo dõi, kiểm tra việc triển khai, thực hiện Nghị quyết này; định kỳ báo cáo tình hình, kết quả để Ban Thường vụ Thành uỷ bổ khuyết chỉ đạo kịp thời./.