Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2010
Ngày 5-12, đồng chí Nguyễn Văn Thuận, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy ký ban hành Nghị quyết số 31-NQ/TU “Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2010” do Hội nghị Thành ủy lần thứ 23, ngày 4-12 thảo luận và thông qua. Báo Hải Phòng trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn Nghị quyết.
1- TÌNH HÌNH CHUNG
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cùng với thiên tai dịch bệnh liên tiếp xảy ra trong năm 2009 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Đặc biệt, kinh tế thành phố Hải Phòng có độ mở lớn nên những tác động càng trở nên nặng nề hơn, như đầu tư, xuất nhập khẩu giảm, các doanh nghiệp bị thu hẹp sản xuất, kinh doanh, người lao động không có việc làm…; việc tiến hành thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường cần có sự tập trung cao trong chỉ đạo, lãnh đạo và quyết tâm cao của các cấp uỷ Đảng, chính quyền. Trước bối cảnh đầy khó khăn, thách thức, các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân thành phố đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, nhờ vậy, tình hình thành phố tiếp tục ổn định; đã ngăn chặn được suy giảm kinh tế và đạt tốc độ tăng trưởng hợp lý, hầu hết các ngành, lĩnh vực chủ yếu đạt và vượt mục tiêu đề ra; an sinh xã hội được bảo đảm; các lĩnh vực văn hoá-xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và vận động quần chúng đạt kết quả tích cực. Nhiệm vụ trọng tâm “đẩy mạnh cải cách hành chính, gắn chặt và đồng bộ với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ đề hành động năm 2009” đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền thành phố tập trung chỉ đạo, đạt kết quả tốt.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,57%, đạt kế hoạch điều chỉnh (7,5- 8%) và cao gần gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng của cả nước; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tỷ trọng ngành dịch vụ ngày càng tăng (52,52% so với 51,8% năm 2008). Một số công trình, dự án lớn, có ý nghĩa kinh tế-xã hội quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng (cảng PTSC Đình Vũ, nhà máy phân bón DAP, Trung tâm Hội nghị thành phố, Nhà thi đấu đa năng khu liên hợp thể thao…). Các công trình trọng điểm quốc gia và thành phố (đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, cầu Đình Vũ - Cát Hải,...) được tập trung chỉ đạo, giải quyết về thủ tục, nguồn vốn và giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao, khoa học và công nghệ, thông tin truyền thông... phát triển khá toàn diện, đạt kết quả tích cực. Công tác lập và quản lý quy hoạch, xây dựng được tăng cường; quản lý đất đai, tài nguyên môi trường được quan tâm, đang dần đi vào nền nếp, có chuyển biến khá tích cực trên nhiều mặt. Công tác đối ngoại được đẩy mạnh triển khai, chú trọng tính hiệu quả, thiết thực. An ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững và ổn định; tai nạn giao thông được kiềm chế. Công tác cải cách tư pháp, giải quyết khiếu nại, tố cáo được triển khai có chiều sâu, đồng bộ và có hiệu quả rõ hơn. Hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND thành phố thể hiện sự chủ động, kiên quyết, bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, các nghị quyết của Thành uỷ, HĐND, tập trung cao cho triển khai các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội gắn với thực hiện chủ đề hành động năm của thành phố. Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường bảo đảm đúng quy định và các yêu cầu đề ra. Công tác vận động quần chúng có nhiều chuyển biến tích cực, tạo ra nhiều mô hình, phong trào hoạt động thiết thực và sát hơn với nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tiếp tục được chỉ đạo triển khai với trọng tâm mới là “làm theo” đã bảo đảm kế hoạch, có những việc làm sáng tạo, đạt kết quả bước đầu tích cực.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, kinh tế-xã hội của thành phố vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém. Kinh tế thành phố tuy vẫn tăng trưởng nhưng có tốc độ tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây; đến nay sự phục hồi còn chậm, chưa vững chắc. Ngành công nghiệp không đạt kế hoạch đề ra, tốc độ tăng giá trị sản xuất thấp nhất trong rất nhiều năm gần đây, cao hơn không đáng kể so với tốc độ tăng trung bình của công nghiệp cả nước (7,7% so với 7,2%). Tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp -xây dựng trong tổng GDP giảm so với năm 2008 (36,72% so với 37,7%). Khả năng thích ứng của doanh nghiệp với những biến động của kinh tế thị trường chưa cao; năng lực và cơ cấu kinh tế bộc lộ rõ những hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp còn tiềm ẩn những bất lợi, nhất là khi phải đối mặt với những thách thức do biến động của nền kinh tế thế giới. Công tác giải phóng mặt bằng tuy có nhiều tiến bộ, song nhìn chung chưa đạt yêu cầu; tại một số dự án tiến độ công tác này còn chậm; các biện pháp thiếu đồng bộ. Tiến độ triển khai nhiều dự án còn chậm so với kế hoạch, kể cả một số dự án, công trình lớn, trọng điểm; các công trình, dự án hoàn thành đưa vào khai thác chưa nhiều. Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn chưa được quan tâm đúng mức.
Thực hiện việc chuyển đổi mô hình các trường phổ thông ngoài công lập còn nhiều lúng túng; tỷ lệ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia khó hoàn thành do khó khăn về vốn và hạn chế về mặt bằng; giáo dục mầm non đang gặp nhiều khó khăn. Xã hội hoá trong hoạt động văn hoá chuyển biến chưa nhiều. Công tác an sinh xã hội tuy được tập trung cao nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn còn nhiều hộ gia đình có mức sống rất thấp so với mặt bằng chung, song chưa được hưởng các chính sách hỗ trợ của hộ nghèo do thành phố chậm xây dựng, ban hành tiêu chí hộ nghèo mới.
Các thế lực thù địch vẫn gia tăng các hoạt động chống phá. An ninh nông thôn, đô thị, tôn giáo và an ninh kinh tế còn tiềm ẩn nguy cơ phức tạp; còn để xảy ra một số vụ phạm pháp hình sự các đối tượng phạm tội sử dụng vũ khí nóng. Tình hình khiếu kiện liên quan đến tranh chấp đất đai, tôn giáo, đền bù, giải phóng mặt bằng vẫn diễn ra phức tạp ở một số nơi. An ninh biển, đảo tiếp tục có những vấn đề phức tạp mới. Các tụ điểm ma tuý và tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố, số người nghiện ma tuý ở ngoài xã hội còn nhiều; vi phạm các quy định về an toàn giao thông vẫn diễn biến phức tạp. Việc giải quyết một số vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, bức xúc còn chậm.
Tính chiến đấu của công tác tư tưởng còn chưa cao; công tác nắm tình hình cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, chưa sâu sát. Triển khai bước hai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở một số địa phương, đơn vị còn có biểu hiện hình thức, chưa thực hiện tốt việc gắn nội dung cuộc vận động vào sinh hoạt thường kỳ của các chi bộ; một số cán bộ, đảng viên có dấu hiệu tự diễn biến, thiếu thống nhất trong nói và làm, vi phạm quy định, nguyên tắc của Đảng. Việc đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên còn biểu hiện chưa đúng thực chất ở một số địa phương, đơn vị. Xây dựng, rà soát và bổ sung quy hoạch cán bộ của một số đơn vị chất lượng chưa cao. Công tác kiểm tra, giám sát của các cấp uỷ Đảng tuy có chuyển biến tiến bộ nhưng chưa đồng đều; công tác biểu dương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến chưa được coi trọng đúng mức; thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng của một số uỷ ban kiểm tra chưa toàn diện, còn thụ động trong việc phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm để kiểm tra, xử lý. Công tác kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và giám sát theo chuyên đề đối với đối tượng là cấp uỷ viên cùng cấp còn hạn chế. Sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra còn chưa chặt chẽ, dẫn đến còn tình trạng chồng chéo, gây khó khăn cho cơ sở. Công tác nắm tình hình nhân dân, nhất là ở những nơi dễ xảy ra các vấn đề phức tạp còn chậm, thiếu thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn lúng túng, chưa rõ về cơ chế khi thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội. Nghị quyết số 23-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thành phố chưa được cụ thể hóa thành các chương trình hành động...
Những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém có nguyên nhân khách quan do tác động trực tiếp từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, song về chủ quan, trước hết do cán bộ chủ chốt, người đứng đầu một số cấp ủy Đảng, chính quyền và ngành, đơn vị, địa phương còn biểu hiện thiếu gương mẫu, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm, thẩm quyền được giao; công tác chỉ đạo chưa tập trung quyết liệt, chưa thực sự bám sát chương trình công tác đề ra. Công tác nắm và dự báo tình hình có việc còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ chủ chốt, công chức năng lực yếu, không đáp ứng yêu cầu nhưng vẫn chậm được khắc phục; sự phối hợp giữa một số cấp, ngành, địa phương, đơn vị chưa thống nhất, đồng bộ. Một số thủ trưởng cơ quan, đơn vị (nhất là với sở, ngành thành phố) chưa thực sự quan tâm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị mình.
2- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NĂM 2010
1- Dự báo tình hình
Năm 2010 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội 10 của Đảng, Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố; có ảnh hưởng quyết định đến kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010; kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn của đất nước và thành phố; diễn ra Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội 11 của Đảng, nên có ý nghĩa rất quan trọng. Nhiều dự báo cho thấy, kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi vào cuối năm 2009, đầu năm 2010 và dự báo năm 2010 sẽ có cải thiện, chuyển biến tích cực hơn, các hoạt động thương mại và đầu tư trên thị trường thế giới cũng từng bước phục hồi và phát triển. Khả năng hồi phục kinh tế của Việt Nam trong năm 2010 là rõ ràng, khi những cơ chế, chính sách được ban hành trong năm 2008 và 2009 nhằm thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, ngăn chặn suy giảm kinh tế, đã đi vào cuộc sống, góp phần giải phóng sức sản xuất, huy động nhiều hơn các nguồn lực cho phát triển và giải quyết tốt hơn các vấn đề về kinh tế, xã hội, môi trường.
Tuy nhiên, dự báo kinh tế thế giới và nước ta vẫn tiếp tục biến động phức tạp, khó lường, đặt các doanh nghiệp trước những khó khăn cần phải vượt qua như xu hướng bảo hộ mậu dịch của các nước gia tăng, biến động giá cả, lạm phát, khan hiếm nguyên liệu, năng lượng... Mặt khác, mức tăng trưởng kinh tế năm 2009 thấp cùng với những hạn chế từ nội lực của từng doanh nghiệp, của kinh tế thành phố cũng sẽ là một thách thức lớn, lâu dài cần các doanh nghiệp tranh thủ sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, biến thách thức thành cơ hội, tận dụng được nguồn lực của cả trong nước và nước ngoài để cơ cấu lại sản xuất một cách phù hợp hơn. Bên cạnh đó, thiên tai, thời tiết, dịch bệnh, đặc biệt là dịch sốt xuất huyết và dịch cúm A (H1N1) vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp... đòi hỏi sự tập trung cao nguồn lực cho việc vừa phục hồi, phát triển kinh tế, vừa đảm bảo thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, giữ gìn ổn định mọi mặt, bảo đảm sự phát triển bền vững của thành phố.
2- Mục tiêu
Căn cứ yêu cầu, tình hình thực tiễn của đất nước và thành phố, Thành uỷ xác định mục tiêu chủ yếu trong năm 2010:
- Đẩy nhanh sự phục hồi kinh tế thành phố gắn với chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại; bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
- Đẩy mạnh hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế một cách chủ động; giữ vững ổn định chính trị -trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Phấn đấu thực hiện cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 2006-2010.
- Tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội 14 Đảng bộ thành phố, bảo đảm đúng yêu cầu chỉ đạo của Trung ương Đảng.
- Tiếp tục xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh toàn diện.
3- Một số chỉ tiêu chủ yếu
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 10% trở lên so với năm 2009, trong đó: nhóm ngành công nghiệp-xây dựng tăng 10,4- 11,2%; nhóm ngành dịch vụ tăng 10,7- 11%; nhóm ngành nông-lâm-thuỷ sản tăng 4,3- 4,5%. Cơ cấu GDP: công nghiệp-xây dựng 37%; dịch vụ 53%; nông -lâm -thuỷ sản 10%;
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13- 14% so với năm 2009;
- Giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản tăng 5- 5,5% so với năm 2009, trong đó: nông nghiệp tăng 4,5- 4,7%, thuỷ sản tăng 8- 9%;
- Sản lượng hàng hóa thông qua cảng trên địa bàn đạt 35- 36 triệu tấn, tăng 7,7- 10,8% so với năm 2009, trong đó cảng chính Hải Phòng đạt 15- 16 triệu tấn;
- Thu hút trên 4,2 triệu lượt khách du lịch, tăng trên 5% so với năm 2009;
- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.940 triệu USD, tăng 15% so với năm 2009;
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội huy động khoảng 30.000 tỷ đồng, tăng trên 9% so với năm 2009;
- Thu ngân sách địa phương đạt 5.163 tỷ đồng, tăng trên 14,7% so với năm 2009;
- Giải quyết việc làm cho khoảng 4,7 vạn lượt lao động, tăng 4,5% so với năm 2009; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%;
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ổn định ở mức dưới 1%;
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 3,86%;
- Tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 91-92%;
- Tỷ lệ chất thải đô thị được thu gom và xử lý hợp vệ sinh đạt trên 90%.
4- Những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu chủ yếu đề ra, Đảng bộ, các cấp chính quyền, quân và dân thành phố cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
4.1. Thực hiện có hiệu quả chủ đề hành động năm 2010 “Tăng cường bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội”. Tập trung cao cho phát triển kinh tế. Tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp kích thích kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển gắn với chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại nhằm đẩy nhanh sự phục hồi kinh tế thành phố. Từng bước điều chỉnh cơ cấu kinh tế, trọng tâm là trong ngành công nghiệp để nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm hiệu quả và phát triển bền vững.
Đẩy nhanh tốc độ phục hồi và phát triển công nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tiếp tục tập trung cao sự chỉ đạo cho công tác giải phóng mặt bằng với các biện pháp đồng bộ, kiên quyết, tạo sự chuyển biến rõ nét, hiệu quả; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án, công trình lớn và trọng điểm (đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, khu công nghiệp-đô thị Bắc Sông Cấm, các khu công nghiệp An Dương, Nam Đình Vũ…). Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp để tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, đặc biệt khi nền kinh tế thế giới đã được phục hồi. Đẩy nhanh tiến độ thi công và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để sớm đưa vào hoạt động và nâng hiệu suất khai thác các dự án công nghiệp lớn như Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng 1 và 2, Nhà máy sản xuất phôi thép Việt-Ý, Nhà máy phân bón DAP…
Phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, viễn thông, dịch vụ cảng biển, du lịch, dịch vụ tư vấn... Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh toàn diện và nâng cao hiệu quả hoạt động công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đồng thời chú trọng khai thác nhu cầu của thị trường nội địa. Đẩy mạnh công tác đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nước; hoàn thành việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hợp tác xã.
Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá 10) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; rà soát, đánh giá và đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản theo Nghị quyết số 10 của HĐND thành phố; tiếp tục cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần dân cư nông thôn; chú trọng công tác phòng chống thiên tai, phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.
Khai thác mọi tiềm năng, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nội lực để đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Quan tâm tái cơ cấu nền kinh tế, trọng tâm là ngành công nghiệp, trong đó chú ý các vấn đề cơ cấu sản phẩm, thị trường, nguồn lực đầu tư, tái cơ cấu trong từng ngành, từng doanh nghiệp. Xác định các lĩnh vực ưu tiên và lĩnh vực không khuyến khích để có quyết định ngay từ khi thẩm định, xét duyệt dự án theo hướng chú trọng các dự án có nguồn thu lớn, sử dụng công nghệ cao- thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu, vật liệu…
Chú trọng triển khai các chủ trương, giải pháp, tạo sự chuyển biến rõ nét, hiệu quả thiết thực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại để bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Tổ chức triển khai có hiệu quả kế hoạch của Chính phủ thực hiện chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước giai đoạn đến năm 2020 đối với sản xuất công nghiệp trên địa bàn, phù hợp với các cam kết quốc tế, quy định của Tổ chức Thương mại thế giới.
Thực hiện tốt Luật Ngân sách Nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, vốn đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để tăng thu cho ngân sách, bảo đảm đủ nguồn cho nhu cầu chi; sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách thành phố, kiên quyết chống thất thu, thất thoát. Đẩy nhanh việc giải ngân các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn ODA, có giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải; tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài.
Triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành uỷ về định hướng Chiến lược biển Hải Phòng đến năm 2015 và 2020 và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện, Thông báo kết luận số 115-TB/TƯ của Ban Bí thư Trung ương về kiểm điểm 4 năm thực hiện Nghị quyết 32-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, Quyết định số 1567/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch của Chính phủ tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TƯ của Bộ Chính trị bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể và tập trung các giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện.
4.2. Chú trọng công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển đô thị, quản lý và sử dụng đất đai, bất động sản, tài nguyên và môi trường. Phối hợp tốt với các bộ, ngành Trung ương tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả, bảo đảm tiến độ các công trình, dự án trọng điểm và chương trình, dự án ưu tiên giai đoạn đầu theo Quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng phê duyệt. Tăng cường công tác xây dựng quy hoạch mạng lưới và các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật đô thị. Quan tâm cải tạo, chỉnh trang nâng cấp đô thị cũ; tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án khu đô thị mới, khu đô thị trọng điểm.
Tăng cường rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp quy về quản lý đất đai, làm cơ sở quản lý chặt chẽ nguồn lực đất đai gắn với thanh tra, kiểm tra và thu hồi đất do vi phạm theo Luật Đất đai. Rà soát các dự án phát triển nhà, kiên quyết xử lý kịp thời các dự án không đủ năng lực triển khai theo quy định; phát triển mạnh quỹ nhà chung cư, nhà ở xã hội cho công nhân, sinh viên và người có thu nhập thấp. Xây dựng cơ chế, chính sách bảo đảm tính thống nhất, công khai, minh bạch, tạo điều kiện lành mạnh hoá và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch bất động sản, thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường. Triển khai tích cực, đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường và tăng cường công tác quản lý môi trường ngay từ khi thẩm định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, các dự án đầu tư; giám sát chặt chẽ việc thực hiện để ngăn chặn ô nhiễm. Xử lý kịp thời, kiên quyết, có hiệu quả các điểm nóng gây ô nhiễm môi trường. Huy động các nguồn lực để đầu tư dự án quản lý và xử lý chất thải rắn, dự án thoát nước mưa, nước thải; đầu tư hoàn chỉnh công trình xử lý nước thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp đã đưa vào hoạt động.
4.3. Thực hiện tốt các chương trình phát triển văn hoá - xã hội, tiếp tục đặc biệt chú trọng công tác an sinh xã hội. Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục bậc trung học và nghề; tập trung đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở các cấp học, bậc học; thực hiện sắp xếp, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục. Tập trung thực hiện tốt việc chuyển đổi mô hình các trường phổ thông ngoài công lập. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, phấn đấu tăng nhanh tỷ lệ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành uỷ về “Ổn định và phát triển giáo dục mầm non thành phố Hải Phòng giai đoạn 2009-2015”.
Tổ chức tốt các hoạt động chào mừng kỷ niệm những ngày lễ lớn của thành phố và đất nước bảo đảm trang trọng, an toàn, tiết kiệm, tạo ra động lực mới cho xã hội, trên tất cả các lĩnh vực. Tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động và dịch vụ văn hóa, nhất là những khu vực nhạy cảm, phức tạp. Tăng cường công tác y tế dự phòng; không để xảy ra dịch bệnh, nhất là dịch cúm A(H5N1) và A(H1N1), dịch bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh tuyên truyền nội dung sửa đổi của Pháp lệnh về Dân số, ổn định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1%; tập trung giảm số sinh mới và có biện pháp khắc phục tình trạng sinh con thứ 3 trở lên, mất cân bằng giới tính.
Tích cực, chủ động, kiên quyết trong công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội. Hoàn thành và đưa vào sử dụng Trung tâm Giáo dục-Lao động xã hội số 2. Triển khai các biện pháp đồng bộ, hiệu quả nhằm bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động... Huy động mọi nguồn lực thực hiện kịp thời, có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt chính sách đối với các đối tượng thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với nước và những người hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, thất nghiệp. Coi trọng làm tốt công tác giải quyết việc làm, tái định cư và bảo đảm cuộc sống cho người dân, nhất là nông dân trong vùng phải thực hiện giải phóng mặt bằng, giao đất thực hiện các dự án phát triển công nghiệp, đô thị. Sớm xây dựng tiêu chí hộ nghèo của thành phố và rà soát lại các hộ nghèo theo tiêu chí mới bảo đảm chính xác, công bằng, dân chủ để có chính sách hỗ trợ phù hợp; không để xảy ra tình trạng tái nghèo... Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 và chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ triển khai Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố. Phát triển dịch vụ khoa học công nghệ trong các lĩnh vực tư vấn và chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ… Đẩy mạnh phát triển nhanh nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế.
4.4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính, gắn với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính theo hướng đơn giản hoá, thống nhất, công khai, minh bạch; triển khai thực hiện tốt kế hoạch “Năm dân vận chính quyền”; đẩy nhanh quá trình triển khai giai đoạn hai Đề án 30 về đơn giản hoá thủ tục hành chính, kiên quyết cắt giảm 30% thủ tục hành chính hiện có. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn và quy chế dân chủ ở các loại hình đơn vị mạnh mẽ và đồng bộ hơn.
Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 và Nghị quyết số 10-NQ/TU của Thành uỷ về Chương trình hành động thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các giải pháp phòng ngừa, tăng cường tính công khai, minh bạch, đề cao vai trò giám sát của nhân dân và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng chống tham nhũng. Nâng cao năng lực phát hiện và kiên quyết xử lý đúng pháp luật các hành vi tham nhũng.
4.5. Tăng cường công tác quốc phòng- an ninh; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.
Tăng cường công tác nắm tình hình về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đề cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; triển khai các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa, kiềm chế tội phạm nhất là trọng án, sử dụng vũ khí nóng, tội phạm ma tuý và các tội phạm nghiêm trọng khác. Tiếp tục kiềm chế và giảm tai nạn giao thông. Phát hiện, xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.
Tập trung giải quyết các vụ việc khiếu kiện tập thể, kéo dài; những vụ việc bức xúc cần phải giải quyết kịp thời, dứt điểm từ cơ sở, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ Đảng, chính quyền trong việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân.
Nâng cao chất lượng và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang thành phố, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ diễn tập chỉ huy, khu vực phòng thủ, diễn tập phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn.
Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các chương trình, nhiệm vụ trọng tâm về công tác tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TƯ của Bộ Chính trị theo lộ trình; quan tâm chỉ đạo các nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá 10)
4.6. Thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm về công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, vận động quần chúng. Tập trung cao, triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 37-CT/TƯ của Bộ Chính trị, tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội 14 Đảng bộ thành phố, góp phần vào thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng; chú trọng thực hiện tốt việc chuẩn bị văn kiện Đại hội đảng bộ các cấp, tổ chức tốt việc lấy ý kiến tham gia vào dự thảo văn kiện Đại hội 11 của Đảng; thực hiện tốt công tác cán bộ tại Đại hội Đảng bộ các cấp. Tiếp tục kiện toàn HĐND ở cấp thành phố và xã; tăng cường vai trò giám sát của các tổ chức đoàn thể khi không còn HĐND cấp huyện, quận, phường.
Tăng cường công tác tư tưởng để tạo sự thống nhất cao giữa nhận thức và hành động của toàn Đảng bộ, quân và dân thành phố về tình hình, bối cảnh quốc tế và trong nước, những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm 2010 với tinh thần xây dựng quyết tâm cao, đoàn kết, chủ động đi đôi với chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nể nang, né tránh và các biểu hiện cơ hội, cá nhân chủ nghĩa. Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trọng tâm theo chủ đề "xây dựng Đảng vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”, tiếp tục nhân rộng các điển hình tiên tiến làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, tổng kết thực hiện cuộc vận động và đề ra các chủ trương, giải pháp đưa cuộc vận động đi vào nền nếp thường xuyên.
Đề cao tính kỷ cương, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ đảng viên, công chức. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp công tác, ngay từ khâu triển khai thực hiện nghị quyết. Chú trọng công tác xây dựng, quản lý nội bộ; nâng cao năng lực, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên. Khắc phục những biểu hiện nói không đi đôi với làm, vi phạm phẩm chất, đạo đức và nguyên tắc Đảng; tăng cường củng cố đoàn kết nội bộ, đồng thuận về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân.
Xây dựng và thực hiện tốt chương trình kiểm tra, giám sát năm 2010 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Thành uỷ theo hướng công tác kiểm tra, giám sát thực sự là của cấp uỷ Đảng; nâng cao chất lượng thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng của uỷ ban kiểm tra các cấp.
Giúp Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ xây dựng và hoàn thành chương trình công tác năm 2010; trọng tâm là lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội 10 của Đảng, Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố, tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội 14 Đảng bộ thành phố. Chủ động, tích cực triển khai, cụ thể hoá thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố và nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp ngay sau khi hoàn thành việc tổ chức đại hội.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng gắn với phát động và tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước của cán bộ, đảng viên, nhân dân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao để hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2010, thiết thực lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày lễ, kỷ niệm lớn của đất nước, thành phố, Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội 14 Đảng bộ thành phố.
13- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ theo quy định, Đảng đoàn HĐND thành phố, Ban cán sự Đảng UBND thành phố triển khai thực hiện Nghị quyết này. Trong tháng 1-2010, Ban cán sự Đảng UBND thành phố xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể về thực hiện chủ đề năm 2010 “Tăng cường bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội” trình Ban Thường vụ Thành uỷ quyết định.
Căn cứ mục tiêu chủ yếu, chủ đề hành động và các nhiệm vụ, giải pháp năm 2010 Thành uỷ đã xác định, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp và đảm bảo tính khả thi cao để triển khai thực hiện; đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, nhất là đề cao trách nhiệm cá nhân của cán bộ chủ chốt và người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tập trung thực hiện dứt điểm, có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, kịp thời giải quyết khâu yếu; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, bổ khuyết chỉ đạo kịp thời. Mỗi cán bộ, đảng viên phát huy tinh thần trách nhiệm, thể hiện ý chí, quyết tâm cao, chủ động, sáng tạo phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.