Nghề Thi hành án dân sự: Hãy để trái tim chạm tới trái tim
Năm 2026 đánh một dấu mốc lịch sử đặc biệt ý nghĩa - kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026), và cũng là tròn 20 năm gắn bó với ngành Thi hành án của chị Trương Thị Nga, phó phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, tỉnh Gia Lai.
Hai mươi năm - một tình yêu
Tôi hẹn chị vào một buổi trưa giữa cái nắng chang chang của xứ “bò một nắng” Krông pa, một địa danh xa nhất của tỉnh Gia Lai cũ với hơn 90 % dân số là người dân tộc thiểu số. Vẫn chất giọng đặc trưng của người Hà Tĩnh, chị kể cho tôi nghe về đời, về nghề, về những ngày chân ướt chân ráo từ quê vào vùng đất này lập nghiệp.
Năm 2006, sau khi tốt nghiệp ngành Luật Đại học Đà Lạt, cô gái trẻ sinh năm 1983 với bao hoài bão và khát vọng tuổi trẻ đã nộp hồ sơ thi vào Thi hành án tỉnh Gia Lai. Chị kể “Quê mình Hà Tĩnh ngày ấy khó khăn lắm, cha mẹ nào cũng động viên con cái ráng học để thoát nghèo. Như bao bạn bè cùng trang lứa, tuổi trẻ với bao nhiêu hoài bão ước mơ được đi đến những chân trời mới. Tốt nghiệp Đại học mình đã gửi hồ sơ đi xin việc nhiều nơi và rồi mình cơ duyên khiến mình gắn bó với Thi hành án nơi đây”. Chị kể, ngày ấy nơi đây hoang vu lắm. Lắm khi đi cả 10 km số không có một bóng nhà. Chị đùa “Nếu không phải sinh ra từ vùng nắng gió Hà Tĩnh có khi mình đã bỏ về ngay từ tuần đầu tiên. Thế rồi, bằng một tình yêu vô hình nào đó mình đã gắn bó với vùng đất này vừa tròn 20 năm”.
Người ta nói, nghề thi hành án là chặng cuối của “hành trình tư pháp”quả không sai. Bởi những người khi đến với chị đều là những người đều bị mất mát. Hai mươi năm gắn bó với nghề với bao niềm vui, nỗi buồn. Chị cười, nụ cười đất tâm trạng “nhưng nghề này, nỗi buồn nhiều hơn vui em ạ. Vui sao được khi mình nhìn người dân phải xách đồ ra khỏi ngôi nhà gắn bó, chia tay mảnh ruộng, góc vườn… Dù với bất kỳ lý do nào đi chăng nữa thì cuộc “chia ly” đó cũng đầy sự đau thương và mất mát”. Hai mươi năm với hàng ngàn vụ án, mỗi vụ án là một kỷ niệm, một bài học hay sự nhức nhối đối với người chấp hành viên với trái tim của một người phụ nữ dù có can trường cũng không tránh khỏi những nhói lòng.
Trải qua nhiều vị trí trong ngành thi hành án dân sự, nhưng ở mỗi vị trí đều là những hành trình để chị trưởng thành hơn, tích luỹ kinh nghiệm hơn trong công việc. Đối với người chấp hành viên, khi xử lý công việc đối với đương sự không chỉ để giải quyết cho xong hồ sơ, xong bản án mà phải làm sao khi bản án được khép lại là sự hài lòng của cả hai bên. Chị bảo: Với bất cứ người dân nào đi nữa, khi được giải thích rõ rõ về pháp luật thì họ sẽ không còn chống đối, thậm chí chính họ tự nguyện thi hành bản án của mình.
Sau khi sắp xếp lại bộ máy, chị Trương Thị Nga với cương vị phó phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 lại tiếp tục bản lĩnh can trường của một người phụ nữa độc lập để hoàn thành trọn vẹn công việc mà mình đã chọn.
Công tác ở một nơi mà đa số là đồi núi hoang vu nên nghề thi hành án cũng có những đặc trưng riêng mà không phải ai cũng thấu hiểu. Chị kể, ở nơi đây đa số ban ngày người dân đều đi làm nương rẫy lại không hay sử dụng điện thoại. Vì thế, khi có việc gì thường phải đến tận nhà dân chờ họ đi làm về. Chị đùa “Mình lắm khi không chỉ biết nhà của đương sự mà còn phải biết cả rẫy của đương sự để có việc cần còn có thể liên lạc với họ”.

Vất vả là thế nhưng khi tôi hỏi: Nếu chọn lại thì chị nghĩ sao? Chị nói “Mỗi con người hay nghề nghiệp đều là nhân duyên. Đối với phụ nữ mà công tác ở vùng núi như mình cái chính ngoài sự bản lĩnh còn có một tình cảm với nghề. Sau mỗi bản án mình mang lại sự hài hoà cho cả hai bên chính là niềm vui, sự an ủi và quyết tâm đối với mỗi chấp hành viên trong hành trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Ở nơi đây, mỗi chấp hành viên không chỉ là thực thi pháp luật mà còn là một “chuyên gia tư vấn” để tránh những tổn thương, những va chạm nhất có thể. Có lẽ nhờ vậy, mà suốt hơn 10 năm làm chấp hành viên mình chưa từng bị người dân khiếu nại, khiếu kiện”.
Từ đương sự thành “chị em kết nghĩa”
Nỗi buồn sâu trong mắt, chị nhớ về người chồng quá cố với 5 năm hạnh phúc ngắn ngủi bên nhau. Anh và chị đều là những người cùng quê xa xứ chọn Gia Lai làm điểm dừng chân. Năm 2009 anh chị cưới nhau rồi sinh con. Hạnh phúc chưa kịp trọn vẹn thì anh tai nạn đã khiến anh ra đi mãi mãi để lại chị với cậu con trai 4 tuổi. Từ đó, chị đã chọn ở lại một mình chăm sóc cậu con trai với vai trò vừa làm mẹ, làm cha của cậu bé.
Nhắc đến những kỷ niệm của 20 năm theo nghề Thi hành án, hơn 10 năm làm chấp hành viên chị bảo có hàng ngàn, hàng vạn kỷ niệm. Nhưng với người phụ nữ can trường đó kỷ niệm chính là những tháng ngày gian khổ, vất vả để vừa hoàn thành công việc xã hội, vừa để hoàn thành vai trò của một người mẹ, người cha trong gia đình. Nghề thi hành án ở những đô thị lớn có áp lực của đô thị lớn, ở những vùng thôn quê có những áp lực của thôn quê. Tựu chung lại, dù ở bất kỳ vùng nào thì những tài sản đó, những bản án đó cũng là một phần đời hay thậm chí cả cuộc đời của người ta tích luỹ. Nhưng ở một địa phương với đa số người dân tộc thiểu số thì ngoài pháp luật người ta còn lệ làng, còn những tổn thương tâm lý sâu rộng nên vì thế ở đây thì “hàng vạn cái lý không bằng một tý cái tình”. Ngoài tuyên truyền pháp luật mình phải mềm dẻo tìm hiểu tâm lý của đương sự, có như vậy mới giải quyết được “gốc rễ” của sự việc, tránh những tổn thương tổn thất nhất có thể đối với cả hai bên.
Sau hàng ngàn hàng vạn câu chuyện với 300- 400 bản án mỗi năm nhưng những câu chuyện còn đọng lại trong chị chính là những câu chuyện thấm đẫm tình người. Đó là vào năm 2014, người bị thi hành án nợ tiền nhưng tài sản của họ đều đã “tẩu tán”, hoặc “cầm cố” cho người khác hết nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nắm được bản chất của sự việc, chị Nga đã không dùng pháp luật để nói chuyện mà chị dùng lòng người, dùng trái tim để cảm hoá người phụ nữ đó. Thế rồi, họ tự nguyện trả nợ. Chị kể, “sau khi trả nợ xong vợ chồng chị ấy mang con gà xuống nhà cảm ơn. Tâm sự với nhau mãi rồi hai chị em thân nhau lúc nào không biết. Từ một người chống đối pháp luật, chống đối chấp hành viên giờ hai chị em đã trở thành chị em kết nghĩa. Chị ấy nói với mình rằng “ Nhờ em phân tích mà chị hiểu ra nhân quả của cuộc đời. Ở đời sai thì làm lại nhưng phải giữ được đạo đức, luơng tâm của mình”. Có lẽ nhờ vậy mà bây giờ chị ấy đang có một cuộc sống rất bình an.”
Rồi có một vụ việc kéo dài suốt 8 năm chỉ vì tranh chấp nhau 35 cm đất. Giá trị vật chất thì không cao nhưng vì cái tự ái, tự trọng của những người trong cuộc nên việc thi hành án kéo dài mãi. Mặc dù bản án đã rõ, nhưng vì những người trong cuộc 1 bên là cán bộ nhà nước, một bên là người dân tộc thiểu số. Mỗi bên đều có lý lẽ của riêng mình. Mình làm nghề này, nên hiểu những người dân tộc họ thật thà nhưng lại mang trong mình tâm lý dễ tổn thương. Như sự việc trên bản chất kéo dài bởi vì mỗi lần muốn thi hành án thì ông chồng đòi tự tử. Chị nói “làm nghề này không thể bất chấp để có thể hoàn thành công việc mà mình phải làm sao thấu tình đạt lý”. Thế rồi, sau những giờ làm chị lại tỉ tê tâm sự với người vợ của bên phải thi hành án, phân tích theo pháp luật, theo tình người. Chị đã dùng trái tim của một người mẹ chạm lấy trái tim của người mẹ để rồi gần 8 năm gia đình người ta đã tự nguyện thi hành án, trả lại 35 cm đất cho nhà hàng xóm.
Chia tay chị khi nắng chiều đã ngả nhưng cái nóng vẫn như bỏng lấy da thịt của mỗi người. Tôi nghĩ, điều gì đã níu chân một “goá phụ” như chị gắn bó với mảnh đất này suốt 20 năm và còn lâu hơn thế trong khi không có người thân bên cạnh. Rồi tôi chợt nhớ tới câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở”. Có lẽ sự hồn hậu của những người dân, tình yêu nghề da diết đã níu chân người đàn bà đấy gắn bó chẵn 20 năm nơi “chảo lửa”.