Nghe gió hun hút thổi

Truyện ngắn của Lý Biên Cương

 

Cái giống cỏ hoang sống đến khốc liệt và dai dẳng.

Thử dứt một nắm cỏ, đặt trong lòng bàn tay, rồi ngẫm nghĩ, sao nó lại có mặt giữa điệp trùng màu xanh cây lá cõi đời. Rễ cỏ thì đấy, một đống lù xù xoải ngang mặt luống, chỉ cần chút xíu đất dính vào là nghiễm nhiên sống, thoi thóp mọc mầm. Lá cỏ gặp mưa khỏi nói, ào ạt bung mạnh, xanh ngăn ngắt, non mỡ màng. Còn những ngày chang chang nắng, nắng tưởng vỡ mặt người, nắng như nung như đốt, lá quằn quại lả đi nhưng cỏ không hề biết đến cái chết, giấu mình trong đất, trong nhau. Đêm đến, hút một chút khí trời, ngậm vài lẻ sương nhạt thì sự sống điềm nhiên trở lại, sáng ra mướt mát ùa tỏa, chả ngại người qua kẻ lại dẫm lên, chả ngại những đợt lửa khói quần đảo. Tôi tận mắt chứng kiến kiếp cỏ lay lắt sống giữa sóng dội Cà Mau, biển mặn thế, cỏ vẫn cứ ngọt lan cạnh cây đước, cây mắm. Tôi cũng sững sờ thấy cỏ hiu hắt bên các ụ cát Quảng Bình, loi thoi giữa cảnh cát trắng lóa, không một cây nào sống nổi, trừ mỗi cỏ. Tôi từng ngạc nhiên đi trên núi trọc Tây Bắc hằng ngày đường, đá sừng sững đá, bỗng hoa mắt gặp từng bụi cỏ mọc cheo leo sườn vực, như suốt đời tự nhiên ở đấy, không cần ai biết, không thiết ai chăm. Trời đất, cỏ là vậy, sống như người, hoang vu mà quần tụ, ngây ngấy mùi dại thảo, lơ lửng chút hương vị có có không không. Sống như thế cơ cực quá, đơn côi quá, nhưng vẫn không thể dứt. Bởi nó là cỏ, vâng, là cỏ và lại là cỏ dại, tồn tại gữa đất giữa trời.

Con người, kìa, con người liệu còn ai cũng giống kiếp cỏ? Có, nhưng hoàn dâng một hình ảnh khác, một liệu sống khác. Chính chuyện mẹ con cô gái dưới đây, tôi xin phép kể hầu bạn đọc xem.

Nghe gió hun hút thổi
Minh họa: Đặng Tiến

Mẹ Dã Thảo, tên đứa con tự dưng có của bà, lạc đến xóm thợ từ lúc nào. Người đời thầm thì mẹ vốn đứa con hoang, mấy bà quang gánh chạy chợ nhặt được mẹ từ dưới lòng cống, bọc trong đống tã tả tơi vụn vải. Mỗi nhà cưu mang một tí, mẹ lần lượt lớn lên, dù quanh năm quặt quẹo không một bữa no. Ngày nhỏ, mẹ lủi thủi làm lụng một mình, nhặt than trôi là chính. Con suối cửa ngõ là con suối trời cho, mỗi đận mưa lớn trôi đất trôi cát là mỗi đận mừng thôi hết mừng của bọn trẻ lớn chưa ra lớn, bé không còn bé. Mẹ quắp cái sảo cao ngang người, đội mưa lao ra dòng suối đang cuồn cuộn băng nước. Giữa cái dòng xối xả là than đấy, than ở đầu đường mỏ bị nước xối tung, băng dòng cuốn tận ra biển ngoài. Cả vùng ào ạt lao theo nước, ngâm tới ngực tới bẹn, tay chân cuống quýt chặn than trôi. Ngày ấy mẹ còn bé xíu, năm sáu tuổi là cùng, người quắp queo cây sậy rừng, nhưng không chịu thua kém ai, lao người xuống dòng nước đen kịt màu than. Mẹ kiếm từng hòn một, than vốn nhẹ hơn nước, trôi lấp lửng giữa nước, hòn to cũng chỉ bằng chiếc bát ăn cơm. Kiếm được hòn nào mẹ hất ngay lên bờ, khuát bên bụi cây mua cũng đen kít than bám. Cuối tầm mới vất vưởng thu dọn lại.

Con người trong hoàn cảnh ngặt nghèo lại sinh nhiều thói hư quẩn. Cùng hôi than như nhau nhưng bọn nhóc nào chịu thương yêu nhau. Chúng thường xuyên bắt nạt mẹ, coi đống than mẹ nhặt được là của riêng chúng. Chúng vây lấy mẹ:

- Ai cho mày vào chỗ chúng ông nhặt than?

Mẹ ngớ người. Than là của trời, đâu phải của riêng ai mà cấm với đoán.

- Chúng ông báo cho mày biết, chúng ông tịch thu tất tật số than này.

- Nhưng em nhặt được, em xin các anh!

“Thì xin này !”, một thằng chừng đầu đảng giáng thật mạnh cái tát lên gương mặt cô bé toàn xương xẩu. Thằng khác xông tới dùng xẻng tạt thật nhanh đống than vào sảo sắt chuyên dùng. Thằng nữa giằng lấy cái sảo tre mẹ lăm lăm giữ trong lòng tay. Mẹ ồm ồm khóc to, tiếng khóc bị mưa lớn làm nhòe đi, một cái răng cửa bật tung, máu miệng nhòa trong nước mưa kín mặt. Cái than còm cõi ốm o vội vã lui về phía cuối dòng nước, chịu thua bọn cao khỏe ra tay trấn lột. Bao nhiêu than chảy xiết giữa suối bị chúng ngang ngược chặn lại, còn đâu đến lượt kẻ hót hôi. Thành thử có buổi về không hoặc vẻn vẹn chỉ mấy hòn than lạc lẻ. Mẹ không còn nhiều than đổi gạo, nhịn đói nhịn khát đứt bữa là thường. Các bà chợ qua, thấy cảnh thương tình ném cho mẩu bánh đa, mẩu cơm nắm: “Chịu khó con ạ, liệu sống được tới ngày khôn lớn hưởng lộc trời không? Ôm lăn ra đấy thì khốn, thuốc men làm gì kiếm nổi tiền mà mua”.

Cũng lạ, mẹ vậy, không hề ốm ngày nào. Người cóc cáy, vất vưởng, nhưng tuyệt không xổ mũi nhức đầu. Tóc tai bù xù tổ quạ, quần áo chằng đụp hôi xì, mẹ đứng đâu cũng bị chúng xua đuổi, sống rúi ró, không mong người màng tới. Thân cô thế cô, được bữa nay nào biết bữa mai, cả năm không lần soi gương, chẳng hiểu bộ dạng mặt mũi mình xấu đẹp nhường nào, mẹ cứ quăng quật giữa lớp người tụ tản. Cơm hẩm cơm thiu, một ít mắm cua, vài con lẹp nướng, vậy mà sống, như cỏ như cây, mỗi ngày một tí. Mẹ lúi húi đi, cái giỏ ngang hông, từ mờ sáng mở mặt đến tối mịt mặt người mới dò dẫm tìm về hốc đá đấu ngách suối. Sống như không sống, thật tội!

Ngày mưa đã vậy. Còn ngày nắng?

Ngày nắng mẹ đội chiếc nón rách tủa, lần mò lên phía sau tầng than. Mẹ đi cuốc đất, sới cỏ thuê. Cái giống cỏ đến khỏe, đầu tuần mới gò lưng rẫy, cuối tuần quay lại, chúng đã tua tủa mọc. Đủ các loại cỏ, đếm không xuể. Cái anh cỏ gà tung cao ngọn lá, đầu lá phình to bầu trắng lóa. Cái anh cỏ xước túm tụm xổ gai, chân tay bị cỏ cứa máu chảy từng vệt. Cái anh cỏ mật xem chừng sống dai nhất đám, sợi quấn lồng chặt nhau, tên có vẻ ngon xơi, nhưng thực ra khó nhằn nhất. Đầu xuân cỏ mần trầu đua nhau lan, cuốc rẫy bỏng tay, nhọ mặt người nhìn lại vẫn chẳng được mấy nả. Giữa hạ ôi thôi, những vầng cỏ ráy đan chéo nhau, càng cuốc càng thở hắt, ngỡ không thể cuốc nổi. Cuối thu đâm nhói hoa cỏ may, loại cỏ đến trớ trêu, găm dày ống quần, nhặt cả tối không xong. Còn hoa lau đông đến, ngất nghểu hai bờ suối vắng, lá dài như lá mía, mép sắc như kiếm như dao. Mẹ từng rời rạc chân tay với mọi loại cỏ, riêng với cỏ lau thì chôn một kỷ niệm không bao giờ quên. Cỏ lau ơi, còn nhớ bóng dáng một cô gái (năm ấy mẹ đã thành một cô gái) ngày ngày vung liềm cắt từng vốc. Mẹ đánh cỏ từng nếp một, phơi khô để lợp mái, bứng vách. Mẹ dựng căn lều nhỏ ngay chân đồi than, tự đội cỏ lên mái, tự úp cỏ thành vách. Mẹ ăn ở mỗi mình tại đấy, xưa đã vậy, nay vẫn vậy, cho gọn, cho  tiện.

Ngày ấy, chiến tranh đang độ khốc thảm, nhà nhà sơ tán mãi rừng xa, rừng sâu. Mẹ lần mò một góc suối dựng lấy chỗ ở. Bữa kia, đang ngủ vùi, bỗng loạt xoạt tiếng gõ vách cỏ.

- Có ai trong đấy không?

- Có tôi đây, ai đó, anh bộ đội trên đài pháo trực chiến hả?

- Vâng, tôi đi lấy nước lên cho đơn vị, chị cho tôi đun nhờ bếp chị với.

Lần đầu có người đến lều. Lại anh bộ đội pháo. Trẻ trung nồng nhiệt, đặc sệt hơi thở đàn ông. Còn cười nữa, tiếng cười mới ấm, coi như thế giới này chỉ sống mỗi hai người, coi như chiến tranh đang ở xa mãi đâu kia. Mẹ lúng túng, cảnh này lạ lẫm, chưa từng gặp. Đàn ông với riêng mẹ càng khó gặp. Mình xáu mình nghèo. Mình chả tha thiết chuyện trò cùng ai, thiên hạ cũng chẳng thiết tha cùng mình.

- Chị sơ tán góc rừng này lâu chưa? Anh hỏi.

- Cũng mới.- Mẹ đáp lí nhí.

Anh quờ cỏ khô, chất lửa đun nước. Quệt lửa lấp loáng lên má. Chính vệt lửa ấy đọng mãi lòng mẹ, cái vệt lửa như có hồn, như có tiếng nói riêng.

  Từ bấy, thỉnh thoảng được dịp, anh lại tạt  lều thăm. Mẹ quen dần anh, biết anh quê Chí Linh, gần đây. Anh kể nghe từng loạt cỏ quê hương, đi chân trâu trên đồi, anh thả trâu ung dung gặm cỏ, mình cùng chúng bạn túm tụm đánh khăng. Con trâu phàm ăn, chắc ăn nhiều cỏ độc, bụng trương phềnh, cả đêm lăn lộn ọ ọ sùi trắng bọt mép. Anh bị bố cho một trận đòn mê tơi.

- Quê anh cũng có cỏ độc à ?

- Có chứ, có độc lắm loại. Cỏ mắt cáo lá xoắn cong từng vòng, đến mùa nở hoa tím loãng, ăn vào rất dễ tự trận. Cỏ mõm lợn, cái hoa của nó rất giống mõm ỉn con, chớ dại dúng vào, chúng ngứa rách da rách thịt.

Rồi anh mặc nhiên mắc chiếc tăng màu cỏ úa vào cột, anh hát. Anh hát tựa đất trời này chỉ mỗi riêng mình. Anh hát những lời về từng sợi cỏ. Mẹ ngẩn người lặng nghe.

Cỏ áy là cỏ thế nào

Đêm đêm ẩn sáng ánh sao góc trời

Cỏ gianh, cỏ lác ấy ơi

Dứt ra một nhánh mà chơi cỏ gừng

Tửng tưng tưng tửng quá chừng

Mưa xuân cỏ sữa không ngừng mọc lên

Còn duyên hay đã hết duyên

Anh thưa thầy mẹ biết thêm cỏ gà

Trăm năm trong cõi người ta

Mấy lần vẫn đất phù vân

Cỏ thi nhau quấn phân thân khó rời...

- Thôi mà anh, cỏ là gì mà bài hát lắm cỏ thế!

- Mẹ tôi dạy. Bài dài lê thê, hàng trăm loại cỏ. Tôi cam đoan cỏ nó có phận cỏ. Như cái giống cỏ lau chi cắt gây mái đây. Nó đậm sắc từng cậng, từng lá. Quê tôi không có giống cỏ này. Nhưng tôi vẫn biết nó. Gặp nó suốt dọc đường đóng quân, vừa ken ngụy trang, vừa làm củi đun. Tôi  từng xoạc máu chân tay mỗi lần được phân công cắt cỏ lau về. Lá nó dài như lá mía, nhưng mép nó sắc tựa lưỡi dao. Nó mà cứa thẳng vào da thịt thì thôi rồi, xót đến hằng tuần.

Một tối kia, mùa đông sụt sùi rét mướt. Anh đột ngột vào lều, đổ vào góc bếp một bó cỏ lau ngái khô to tướng. Anh bảo đến chào mẹ, sớm mai theo xe hành quân vào sâu mặt trận. Anh đứng như trời trồng giữa lều, mắt mở to đau đáu nhìn mẹ. Mẹ bỗng nổi hết gai ốc, cũng thật bất ngờ, lao vào ôm chầm anh. Thế này là thế nào? Mẹ không biết, không lý giải nổi. Trước mẹ, một người mới quen chuẩn bị đi xa. Người ấy, một đàn ông chính chính, con người duy nhất trên đời đến với mẹ, giữa khoảng rừng núi âm u đêm hôm. Anh cũng ghì chặt mẹ trong vòng tay mình. Anh hôn như mưa như gió lên mặt lên cổ mẹ. Anh làm những gì mẹ không hay nữa. Chỉ biết bấy giờ rét lắm, mẹ không biết rét, quần áo cởi tung tự lúc nào. Chỉ biết hơi thở mẹ nóng hổi, cùng hơi thở của anh cũng nóng hổi lan khắp cơ thể. Mẹ dâng hiến tặng anh tất cả những gì mẹ có. Anh cũng dâng hiến tặng mẹ tất cả những gì anh có. Hai người quấn nhau nồng nàn giữa nệm cỏ thay giường của mẹ, mặc gió bấc rét như ngựa xé ngoài trời, mặc không gian u u những sợi mưa rơi lộp bộp mái cỏ lợp. Cái đêm ấy mẹ hưởng mọi sự người đàn bà hưởng, lạ lẫm và quen thuộc, như thực lại như hư, hiện có hiện không. Cái đêm ấy trên nệm cỏ lau này chứng kiến cõi lòng mẹ trinh trắng, nguyên vẹn, sâu sức nhường nào.

Sáng mai, mẹ bừng dậy, vận chiếc áo bông cũ kỹ, lao ngay lên chỗ anh trực chiến. Cỗ pháo to tướng đứng đó mọi ngày, giờ bỗng bỏ không trận địa. Các anh đã chuyển quân, anh theo pháo đi mãi đâu rồi? Mơ hồ lặng phắc,  mẹ luẩn quẩn quanh khu đặt pháo, tìm xem anh có bỏ sót thứ gì. Chẳng còn chi sất. Sạch bách. Đọng mỗi hơi thở anh giữa lồng ngực. Bấy giờ mẹ mới hốt hoảng nhận ra, mình chưa kịp hỏi tên, hỏi địa chỉ đơn vị anh. Minh đoảng, ham vui quên đứt những chuyện tưởng như nhỏ nhoi, quên đứt cái việc đáng phải nhớ đầu tiên.

Cái đêm mùa đông ấy găm miết cuộc đời mẹ. Ngỡ như không có nó nữa. Lần đầu mẹ hưởng kiếp làm người lớn. Lại trong hoàn cảnh nói ra khó có thể tin. Mẹ ấp ủ hơi hướng anh, đêm đêm. Những sợi cỏ lau khô dần, cả những ngày mưa gió phũ phàng, mẹ không rút nó ra đun. Nó là kỷ niệm đáng nhớ. Nó âm ỉ thúc gọi những đận chợt thức, nghe gió rừng hun hút thổi về. Nó là tình yêu ưu, đâu phải. Nó là nỗi niềm tự dưng có, tự dưng mất. Nó là tất cả cuộc đời gian nan này, trời phật rủ thương ban phát, dù ban phát tí xíu.

Mẹ chuyển chỗ ở tới hang đá giữa phố núi. Cái bụng mẹ to ra mất rồi. Mới đầu mẹ ngờ mình bị báng, nắn nắn vòng vụng thấy cứng, thấy nhột. Sao nhỉ, sao cứ thể mình mỗi buổi một khác? Không ai gần gặn để hỏi han, chuyện chỉ xảy tới, vì sao con người mình đầy ứ, xơ cứng thêm. Từ bé đến giờ mình có thế này đâu. Đến khi to quá rồi, mẹ hốt hoảng hay tin mình chửa? Chửa sao được,mình có tháng bao giờ bảo chửa? Thân thể mình vẫn trắng nguyên, người ta máu ra máu vào, mình không nhé. Mười bảy mười tám tuổi đời, trắng vẫn hoàn trắng. Mỗi một đêm ăn nằm với trai, đã bị vậy thì quá lắm. Nhưng cái thai vẫn lừng lững hiện. Nó thúc đập. Nó tố cáo. Mẹ phải dọn chỗ ở khác. Cho xa, cho khuất. Mẹ lần tìm tới một hang đá. Chỗ này kín, không ai biết. Mẹ xin làm nhân công quét dọn cống rãnh công ty vệ sinh. Công việc vốn bị coi bẩn coi thường, mẹ không, miễn được làm lụng, có chút tiền nuôi dưỡng cái thai. Hòn máu của anh để lại, phải cố gìn giữ. Anh đang đóng quân mãi đâu, có hay người đàn bà ăn nằm chốc lát đang vò võ đêm ngày nuôi dưỡng cái thai của anh? Mẹ đã sinh nở chật vật, cũng trong một đêm bão gió, tại phòng sản bệnh viện phố. Đứa bé gái oa oa khóc chào đời, đứa bé không thể biết mặt cha và cha bé, của đáng tội, không mảy may rõ hình dáng con mình.

Cô hộ sinh hỏi:

- Chị cho biết tên con để chúng tôi ghi vào giấy chứng sinh?

- Tôi  không chuẩn bị. Nhờ các chị đặt cho.

- Chán chị, con đầu lòng người ta phải đặt từ còn trong bụng mẹ. Tôi đặt tên cháu là Thảo, Thảo nghĩa là hiền hậu, nhường nhịn.

Một bà cùng sinh chép miệng:

- Đặt tên đẹp làm gì. Cứ tên xấu dễ nuôi. Tên Thảo cũng tốt, nên đặt thêm chữ Dã, Dã Thảo, nghe cũng đẹp đấy chứ. Nhưng Dã Thảo có nghĩa cỏ dại. Cũng giống như Dã Quỳ, tức cúc dại. Bằng lòng chưa?

Đứa bé được tên Dã Thảo. Nghe như tên diễn viên văn công. Mẹ không bụng dạ nào để ý. Ừ, Dã Thảo cũng được. Thảo là cỏ ư, càng tốt, càng gợi nhớ. Con bé chùn chụt mút gió, càng lớn càng giống cái môi bố nó. Bố cháu đâu hả chị, người đời dạm hỏi. Mẹ điềm nhiên trả lời, bố cháu là lính pháo, hiện đánh giặc mãi miền trong. Con Thảo hay chưa kìa, mẹ chẳng mấy sữa, chỉ tu nước cháo loãng mà lớn vù vù, phỏng phao hơn con nhà người. Đêm đêm ôm con, thắc thỏm nhớ tới đêm đông nọ, lòng mẹ quặn nỗi nhớ mong. Chẳng hiểu sống chết ra sao, người đâu có người vô tâm,đi là đi biến, chẳng hồi âm tí nào gọi là. Cầu mong anh đừng chết. Để anh còn có ngày trở về, anh sẽ ôm ghì cả hai mẹ con. Con Dã Thảo sẽ cười ré, rúc đầu vào nách bố, liến thoắng chuyện trò. Cón bé đến hay chuyện, ai hỏi bố đâu, nó giang tay giả súng bắn đoàng đoàng. Sau này, lúc lớn hơn,cũng câu hỏi ấy, nó tỉnh bơ, bố cháu là bộ đội, bố cháu liệt sĩ rồi. Chính nó là chỗ dựa để mẹ mỗi khi làm lụng nhọc mệt về, mỗi khi nhớ lại mối tình thoảng qua, mẹ ghì chặt con vào lòng. Con tôi hôi qúa, mồ hôi mồ kê, đất cát đầy tóc, đầy quần áo, con ngây ngô như con mẹ ăn mày đầu phố chợ. Con tôi cũng thơm quá, con thơm chỉ mỗi mẹ biết,con thơm tự trong tâm tưởng mẹ. Mẹ hít hà thơm nựng con, mẹ mua cho con bỏng ngô đây này, con ăn chầm chậm mẹ nhờ, ăn nhanh quá liệu hóc thì chết.

- Này chị, khu mộ liệt sĩ lâu ngày không người chăm, cỏ lút đầu, hoang hóa quá thể. Công ty muốn rút chị về đó, ưng không? Anh cán bộ tổ chức hỏi mẹ.

- Tùy các anh, tôi thì thế nào cũng được.

Mẹ xốc Dã Thảo lên lưng, cái địu vải thổ cẩm cáu bẩn úp chặt đít con bé, chẳng khác mẹ con người dân tộc xóm trại. Mẹ tiếp nhận khu mộ liệt sĩ. Cỏ ơi là cỏ, cỏ lau um tùm phía trên có lồng vực quấn chặt các mô đất. Đặt con một chốt mát, mẹ dùng dao quắm chặt cỏ. Lưỡi dao vung cao, ngọn lau lả xuống, cóc rắn thi nhau vụt nhảy. Sờ tới cỏ lau, mẹ giật mình thon thót. Những cây cỏ này, cây nào anh từng chặt, anh có tới đây chặt? Nước đổ nhạt đổ đầy tay, nước là nước mặt hay máu anh? Người nằm dưới mộ là ai, đồng đội trực chiến năm xưa, hay là...Không dám nghĩ tiếp, nói dại nếu anh thật, coi như đây tấm lòng mẹ, tấm lòng người con sống trước người đã khuất. Giữa đỉnh đồi, ngắm nhìn những ngôi mộ nhấp nhô, lòng mẹ đau nhói. Các anh từng xông pha lửa đạn, các anh hy sinh bảo vệ những tầng mỏ nào, các anh nằm xuống cùng chôn nơi góc rừng vắng. Mẹ con tôi sẽ rẫy hết cỏ dại, sẽ tôn sửa từng ngôi mộ mới, sẽ cuốc từng vầng cỏ đắp vào.Nếu phải anh, anh ơi, mẹ con em sẽ tháng tháng thắp hương các mộ, anh ngửi thấy mùi thơm hương khói sẽ phù hộ độ trì cả hai mẹ con. Lòng anh như hoa cỏ may.Một chiều cả gió bám đầy tóc em. Có một bài thơ viết như thế, thay em, thay con Dã Thảo.

Hai mẹ con sớm chưa mọc mặt trời, tối nhọ đường đất mới lọ mọ cuốc bộ về hộc hang đặt lưng nghỉ. Con Dã Thảo ngủ tít thò lò, mỗi mẹ trằn trọc. Hình dung bóng dáng anh về. Cái dáng khỏe khoắn, cười nói vang nhà, vệt lửa sáng bừng bên má. Anh đổ bó lau xuống vách lều, cứ thế ông nghẹt thở mẹ. Em xin lỗi anh, em tệ quá, tên không hỏi, đơn vị không rõ. Anh còn sống không? Sao mãi không quay lại với mẹ con em? Hay anh có quay lại, em dọn chỗ khác, mất đứt thông tin liên lạc nhau? Anh đóng quân những đâu, càng mong mỏi càng mất biến. Em xấu xí, không ra người, chẳng ra ngợm, em chẳng ước ao gì được sống cùng anh. Nhưng em và con vẫn mong, mong đứt hơi gặp lại anh. Anh đang ở đâu, giờ này?