Ngày xuân trở về để mở hội
(PLVN) - Phong tục người Việt rộn ràng nhất là vào mùa xuân. Tết với người Việt là về nhà - trở về với nguồn cội. Trong không khí đó có sự bùi ngùi nhớ thương của người xa quê, nhưng cũng có không khí rộn ràng với hương vị vào xuân.
Tại sao chúng ta lại về nhà đón xuân?
Cũng như người phương Tây có lễ Giáng sinh, người phương Đông có Tết. Tết là ngày đoàn viên, sum họp, nên người Việt xưa và nay đều mong đón những ngày cuối tháng Chạp, cúng ông Công, ông Táo, đón giao thừa, mùng 1 đi chúc Tết… rồi hội hè, đình đám khắp xóm làng đủ hết. Tết như một sự bùng nổ của người Việt và đạo hiếu, về phong tục, lễ hội… Một không gian ấm cúng để thế hệ trước dặn dò con cháu đủ thứ về gia phong, nếp sống, suy tưởng…
Như vậy, ngày Tết vừa có ý nghĩa, vừa có sức nặng rất lớn về giữ gìn văn hóa dân tộc của ông cha.
Với người xưa, tháng Chạp coi như là “tháng Tết”. Nói về phong tục sửa soạn đón Tết của người Việt xưa từ triều đình cho đến dân thường, bác sĩ Hocquard, người Pháp có những quan sát thú vị: “Trong suốt gần một tháng, người dân An Nam dù giàu hay nghèo đều tạm dừng mọi công việc để dành thời gian cho việc ăn uống và giải trí. Không buôn bán, không đồng áng, không lao dịch buồn chán, tất cả già trẻ lớn bé đều mặc quần áo mới đón Tết, kể cả những người nghèo túng cũng bán đi những đồ đạc cuối cùng và vay mượn để có đủ tiền ăn Tết.
Theo như một câu ngạn ngữ An Nam thì “đầu năm mới phải tươi tốt, nếu không sẽ gặp họa lớn”. Lục Bộ trong Hoàng cung cũng đã đóng cửa. Kể từ 25 tháng Chạp, triều đình dừng mọi công việc, không nhận phê duyệt bản tấu, hộp đựng ấn tín sẽ khóa cho đến ngày 11 tháng Giêng. Các đầy tớ sẽ chỉ nghỉ ngơi trong 3 ngày Tết rồi lại quay trở lại phục vụ các gia đình giàu có, nhưng sẽ đòi thù lao cao” (Một chiến dịch ở Bắc Kỳ - Hocquard).
Nhà văn Vũ Bằng lý giải việc: “Tại sao Tết lại đặt vào ngày cuối và đầu năm âm lịch, mà không đặt vào ngày nào ấm áp như Đoan Ngọ hay thất tịch? Ấy là vì tổ tiên ta lúc chọn ngày để đặt Tết Nguyên đán đã có một ý định đem lại cho Tết Nguyên đán một sự phù hợp với tính chất sinh hoạt dân tộc: các cụ chọn ngày rảnh nhất, một ngày có ý nghĩa nhất trong một năm để tưởng nhớ đến ông bà, rước xách thờ cúng và nghỉ ngơi cho khoẻ”.

Tháng Chạp, ngoài việc sắm sửa trong nhà, người ta còn lo chăm sóc phần mộ người thân đã khuất. Nó giống như chúng ta sửa sang lại nếp nhà cho gọn gàng, để mời tổ tiên về nhà đón Tết. Người Việt không tin người chết sẽ đi xa, nên phải thật chu đáo đón rước người thân về nhà. Nên ba ngày Tết lúc nào cũng có mâm cơm để trên bàn thờ là vậy, xong mới hóa vàng tiễn người đã khuất.
Nhà văn Mai Thảo viết trong tuỳ bút “Thăm nhà một buổi rằng”: “Thêm một năm nữa, đêm giao thừa hay buổi sáng mùng một năm nay, một kẻ đăng tử lang thang cách biệt quanh năm sẽ lại về thăm gia đình mình. Để hòa nhập trở lại với một không khí, ở đó có đời sống là nơi chốn duy nhất không phải là những chặt đứt tàn nhẫn, những trở chiều mê hoảng, những quay đảo choáng váng, những dội đập bàng hoàng. Tôi biết phút trở về như mọi lần, tôi sẽ đi thật nhẹ. Đẩy nhẹ cánh cửa, lách mình bước vào.
Tôi sẽ đứng thật lâu, nhìn cõi về chiều, nhìn vùng yên lặng. Tôi sẽ ngó lên những tấm hình của những người đã chết, dấu tích của những người vắng mặt, nghĩ tới những người đã đi xa. Và chúc thọ cha mẹ tôi. Chúc các người sống thật lâu, bởi vì trên một ý nghĩa nào, các người là những người trẻ nhất.
Rồi tôi sẽ ra ngồi một mình ở ngoài vườn. Để trong im lặng dịu dàng của một cõi xuân riêng, trầm tư về một hiện tượng truyền kiếp đã khiến cho đời sống cuối cùng vẫn được xem như một khởi đầu, một mùa xuân vĩnh viễn”.

Như vậy sự trở về quê cũ, nhà xưa trong những ngày Tết nó mang nhiều ý nghĩa. Nó không ồn ả, xô bồ, bày đặt quá mức, mà ta vẫn thong dong, bình thản thương nhớ tổ tiên. Ngày Tết vậy là lưu giữ phong tục đẹp.
Hội hè vui thôi nhưng đừng xô bồ
Nhà nghiên cứu người Pháp Pierre Gourou khảo sát cho biết. Ở Đình Bảng (Bắc Ninh) có đến 80 ngày lễ công cộng hay bán công cộng trong năm. Ông cũng nhìn nhận rằng lễ hội ở vùng châu thổ sông Hồng rất đa dạng mang nhiều màu sắc tâm linh: “Ngoài những hội hè cúng thành hoàng làng, còn phải liệt vào lễ hội công cộng nhiều lễ hội trong năm để cầu thần xua đuổi bệnh tật đem lại bình an cho dân gọi là lễ cầu yên hay kỳ phúc… Những hội hè của nhóm hay của hội nhiều vô kể vì không nhóm nào hay hội nào mà không có những lễ hội riêng, kèm theo cỗ bàn ăn uống: hội của giáp, của thôn, của tư văn… Những người già đến 60 tuổi phải làm cỗ mời những người già khác, các bà già cũng có cỗ bàn riêng…”. (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ - Nghiên cứu địa lý nhân văn).
Lễ hội bùng nổ sau Tết, khiến cho cụ Phan Kế Bính viết trong Việt Nam phong tục thở than rằng: “Xét cái tục hội hè của ta rước xách nhiều phiền phí, ăn uống rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình”. Ông cũng nói thêm, hội hè là dịp người ta chơi bời, cờ bạc, thanh niên bỏ cả công việc ở nhà đi hội, vậy thì “chẳng những vô ích mà lại cho làng xóm”.
Nhưng theo nhà sử học Trần Quốc Vượng thì, nói đến hội hè - đình đám là nói đến hội xuân, là nghĩ đến mùa xuân: “Có nam có nữ mới nên xuân/Có xôi có oản mới nên phần!”. “Xuân là cái đẹp của thuở ban đầu, như mùa xuân là buổi khởi sinh của chu kỳ năm tháng”, nhà sử học Trần Quốc Vượng nhận định.
Hội hè, đình đám là một đặc trưng tinh thần không thể thiếu khi mùa xuân về. Cái Tết mang đến cho người dân nơi thôn dã tinh thần hứng khởi. Họ được nghỉ ngơi, ăn uống no đủ, được vui chơi quên ngày tháng.
“Trong các làng mạc, kỳ mục tổ chức hội hè để đền bù cho những tháng ngày vất vả đã qua. Tất cả các trò chơi đều được kỳ mục đặt thành quy chế và giám sát. Người ta chẳng chừa cái gì cho sự ngẫu nhiên. Hơn nữa, đàn ông là kẻ chiếm ưu thế trong các hội xuân. Đàn bà không can dự vào việc tổ chức những hội đó. Đa số các trò chơi đều do đàn ông tổ chức, tất cả đều muốn tỏ ra mình là xuất sắc, dù là ở cuộc chơi cờ, chọi gà; dù là cuộc thả diều, thả bồ câu bay, hay ở hội hoa. Đàn bà chỉ dự các trò chơi này từ xa. Họ lợi dụng hội hè để đi cầu cúng ở các chùa chiền, hay xem bói về hậu vận mình” (Sinh hoạt của người Việt - Nguyễn Văn Huyên).

Với xứ sở nhiệt đới gió mùa ẩm ướt, người dân họ có toan tính cho mùa vụ để nuôi trồng, cày cấy, theo chu kỳ nhất định. Có làm lụng chăm chỉ, rồi nghỉ ngơi, thu hoạch, vui chơi. Họ theo những mùa trăng, ngày tháng, con nước, kinh nghiệm mưa bão…
Ông Trần Quốc Vượng cho rằng sự bùng phát lễ hội dịp mùa xuân hay thu là quãng nghỉ nông nhàn quan trọng của người nông dân: “Khi công việc nhà nông đã tương đối “nên công hoàn toàn”, ta tạm nghỉ một vài hôm, làm cúng tổ tiên… để ăn (có khi ăn uống quá độ) và để chơi (có khi chơi bời thái quá). “Ăn chơi” trong một khoảng thời gian ngắn ngủi thôi, nhưng cũng dễ cực đoan, rồi lại làm lụng “hai sương một nắng”, “dãi gió dầm mưa”...
Cái thái quá mà Giáo sư Trần Quốc Vượng nói trên thành ra nhiều cái “tệ nạn, hủ tục” gây lãng phí tiền của và sức khỏe dân chúng, như cụ Phan Kế Bính phê phán ở trên.
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng, “để thoát ra khỏi tình trạng mà Phan Kế Bính cảnh báo, cần có sự nỗ lực của cả xã hội. Cần nghiên cứu những biến động mới trong tâm lý xã hội. Cần tìm ra những cách tổ chức mới cho nhu cầu vừa là giải trí, vừa là hướng thượng cho con người. Mọi thứ mệnh lệnh không đủ, đến cả luật pháp nếu có chắc cũng bó tay. Cái mà chúng ta đang thiếu là văn hóa, không phải thứ văn hóa nặng về khoe mẽ và chiều nịnh nhau, mà là thứ văn hóa của trí tuệ”.
Bởi vậy, nên Vũ Bằng khi viết: “Tết, hỡi cô mặc cái yếm xanh” đã khát khao bày tỏ: “Xin trời Phật phù hộ không bao giờ có những ngày xuân, ngày Tết không có hoa và bướm, không bao giờ có những người không được thương yêu, không bao giờ có những cây không nảy lộc, những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con người xảo trá, tham tàn, độc ác…”.