Ngày xuân phiếm bàn chuyện quan tham

Phùng Quốc Việt

Đất nước bước vào kỷ nguyên mới với niềm hứng khởi, say mê, làm lòng người ai ai cũng rạo rực, hân hoan. Ngoài những ước mơ, những dự định tốt đẹp cho bản thân và gia đình, ai cũng cầu chúc cho xã hội mà họ đang sống ngày một tốt đẹp hơn. Trong đó, một vấn nạn được coi là bức bách nhất- tham nhũng- sẽ bị đẩy lùi.

Tuy nhiên, tham nhũng lại là căn bệnh trầm kha của xã hội có giai cấp. Vì vậy, chống tham nhũng luôn là vấn đề nóng bỏng của mọi thời đại. Hãy xem và suy ngẫm những áng văn thơ của người xưa thì rõ.

Dưới triều đại phong kiến, Nguyễn Khuyến- một nhà Nho thanh liêm chính trực đã dùng ngòi bút của mình đả phá những quan lại cậy quyền thế, tham nhũng, ức hiếp dân lành, bảo kê những tệ nạn xã hội để cốt sao... đút đầy túi tham:

Quan quách chi mày phó bảng Tuân/ Làm cho hại nước lại tàn dân/ Trói thằng đánh dậm, lần lưng khố/ Bắt đứa hoang thai, liếm cả quần/ Lên mặt nhà nho cho hổ phận/ Nhờ đồ con đĩ mới nên thân...

Những lời tố cáo đầy mỉa mai của Nguyễn Khuyến lưu danh sử sách, còn đau hơn gấp mấy lần bản định tội của triều đình.

Đối với những tham quan vô dụng, ngu dốt và những mưu kế bọn chúng bày ra để ăn tiền cũng không qua nổi con mắt của người dân. Nhà nho đã vạch trần thủ đoạn của chúng:

Mắt ngay cán thuổng anh thư ký

Dốt đặc cù lần bác chánh hương

Biên bản dự trù, biên bản hão

Hội đồng tính sổ, hội đồng suông.

Ngoài Nguyễn Khuyến, còn biết bao nhà nho có chí khí, khảng khái dùng ngòi bút của mình để phê phán những tiêu cực của bọn quan tham. Trong số đó có Cao Bá Quát. Trước việc bớt xén trắng trợn của bọn quan lại trong làng, trong tổng mà không bị xử lý, Cao Bá Quát đã mỉa mai:

Khen ai khéo khéo đắp đôi voi

Đủ cả đầu đuổi, đủ cả vòi

Chỉ có cái kia sao chẳng thấy

Hay là ông Lý bớt đi rồi?

Không chỉ dùng thơ ca để đấu tranh, Chu Văn An đã trực diện đấu tranh với bọn quan tham bằng việc trình sớ xin chém mười hai tên quan tham không sợ sự thù ghét, cấu kết của bọn quan lại. Bản thân Nguyễn Khuyến với bản văn sách chống tham nhũng dâng triều đình, cũng cho thấy một cái nhìn thực tế và nghiêm khắc của ông về nạn tham nhũng từ thời Tự Đức.

Qua một số trường hợp trên, cho thấy, ngay cả thời phong kiến, tính dân chủ hạn chế, nhưng các bậc nho gia yêu nước đã dám đấu tranh với các thế lực hắc ám ở chốn quan trường.

Về sau này, khi cách mạng thành công Bác Hồ- vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta, bằng cái nhìn biện chứng đã sớm nhận ra nguy cơ của tệ tham nhũng. Ngày 26-1-1946, Người đã ra một sắc lệnh xử phạt, trong đó chỉ rõ tội ăn cắp của công có thể bị xử tử. Tiếp đó, ngày 27-11-1946, Người ký một sắc lệnh quan trọng khác, ấn định hình phạt về tội nhận và đưa hối lộ. Về mức độ nguy hiểm của bệnh bất liêm, Người coi đó là “thứ giặc nội xâm, giặc ở trong lòng”, tội lỗi ấy cũng nặng như tội “Việt gian, mật thám”...

Ngày nay, khi đất nước chuyển đổi sang kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt thuận lợi và những cơ hội phát triển mới, cũng có những mặt trái kìm hãm sự phát triển. Đó là tệ nạn tham nhũng.

Phải nói rằng đa số cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo của chúng ta có phẩm chất đạo đức trong sáng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, lấy phục vụ nhân dân làm lẽ sống trong công tác. Tuy nhiên, cũng có một bộ phận cán bộ, đảng viên trước ma lực đồng tiền đã không đứng vững được và dần dần thoái hoá, biến chất, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Hơn bất cứ một chế độ xã hội nào, Đảng, Nhà nước ta khẳng định thái độ kiên quyết, nghiêm khắc đối với tệ nạn tham nhũng. Đã có nhiều cán bộ, đảng viên, thậm chí cả những cán bộ giữ các cương vị cao trong bộ máy lãnh đạo, đã phải nhận những mức án nghiêm khắc.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, cho dù người đó là ai, đang giữ cương vị nào! Với phương châm ấy, hy vọng, những mầm mống độc hại của tham nhũng sẽ không còn đất sinh sôi, nảy nở. Để làm tốt điều này, thì mọi người phải nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, đồng lòng chung sức phát triển, quét trừ bọn tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội, đem lại no ấm đến với mọi nhà./.