Ngày làm việc thứ sáu, kỳ họp thứ 9, QH khoá 11: Thảo luận dự án Luật về luật sư

Sáng nay, 22-5, các đại biểu QH đã nghe Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của QH Vũ Đức Khiển trình bày báo cáo của Uỷ ban Thường vụ QH giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật về luật sư.

Báo cáo cho biết, tiếp thu ý kiến các đại biểu QH tại kỳ họp thứ 8 và tại hội nghị đại biểu QH chuyên trách cũng như ý kiến đóng góp của Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của QH, Uỷ ban Thường vụ QH đã chỉnh lý nhiều vấn đề trong nội dung dự thảo, đồng thời nêu rõ những vấn đề còn ý kiến khác nhau và ý kiến của Uỷ ban Thường vụ QH về từng vấn đề đó để các đại biểu QH thảo luận, cho ý kiến.

Trong thảo luận, các ý kiến phát biểu đề cập khá toàn tiện những vấn đề cơ bản của dự thảo luật, trong đó tập trung làm rõ một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau.

Trước hết, đó là vấn đề hoạt động tham gia tố tụng của luật sư quy định tại Điều 27. Nhiều ý kiến đề nghị quy định một số nội dung cụ thể liên quan đến hoạt động tham gia tố tụng của luật sư trong dự thảo luật, tuy nhiên cần có sự điều chỉnh để phù hợp với các quy định khác của pháp luật về tố tụng, bảo đảm tính khả thi. Một số ý kiến khác đề nghị không quy định cụ thể hoạt động tham gia tố tụng của luật sư mà nên dẫn chiếu sang các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Do còn ý kiến khác nhau, Uỷ ban Thường vụ QH trình QH hai phương án sau đây: Phương án 1: Quy định một số nội dung cụ thể liên quan đến hoạt động tham gia tố tụng của luật sư. Phương án 2: Quy định theo hướng dẫn chiếu pháp luật liên quan. Qua thảo luận, hầu hết ý kiến tán thành với phương án I.

Về hình thức luật sư làm việc cho các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước theo chế độ viên chức, ý kiến chung cho rằng, việc luật sư làm việc cho tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước theo chế độ viên chức là không phù hợp với chủ trương xã hội hoá hoạt động bổ trợ tư pháp, cải cách hành chính đã được đề ra trong các nghị quyết của Đảng, không thống nhất với quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và cũng không phù hợp với tính chất hành nghề của luật sư; đồng thời để thống nhất với nội dung mới được bổ sung tại các điều 17, 18 về những trường hợp được cấp, bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư và điều 20 về trường hợp bị từ chối gia nhập Đoàn luật sư nếu là cán bộ, công chức, viên chức... Ý kiến này đề nghị bỏ hình thức luật sư làm việc trong các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước theo chế độ viên chức. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, cần phải có đội ngũ luật sư làm việc trong các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước theo chế độ viên chức. Về vấn đề này, Uỷ ban thường vụ QH cho rằng, ý kiến chung là hợp lý.

Nhiều ý kiến cũng đề cập điều kiện hành nghề luật sư (Điều 11). Loại ý kiến thứ nhất đồng ý với quy định trong dự thảo luật đã trình QH về việc một người muốn được hành nghề luật sư thì phải gia nhập Đoàn luật sư.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, gia nhập Đoàn luật sư không phải là điều kiện để được hành nghề luật sư. Vấn đề này, Uỷ ban thường vụ QH nhận thấy, quy định một người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư muốn hành nghề luật sư phải đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư là kế thừa quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001. Quy định này phù hợp thông lệ hành nghề luật sư được pháp luật của nhiều nước trên thế giới quy định.

Vấn đề đào tạo nghề luật sư đã thu hút nhiều đại biểu thảo luận. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, cần quy định cụ thể thời gian đào tạo nghề luật sư trong dự thảo luật, trên cơ sở tổng kết thực tiễn về nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo và yêu cầu trong tình hình mới để xác định thời gian đào tạo hợp lý, có thể quy định là sáu tháng, chín tháng, 12 tháng, từ sáu đến 12 tháng, tối thiểu là 12 tháng. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, không nên quy định cụ thể về thời gian đào tạo nghề luật sư trong dự thảo luật. Vấn đề này do văn bản dưới luật quy định để bảo đảm tính linh hoạt về thời gian đào tạo nghề luật sư cho những đối tượng khác nhau, ở từng vùng, miền khác nhau trong những giai đoạn khác nhau.

Sau khi cân nhắc, Uỷ ban thường vụ QH đề nghị quy định cụ thể thời gian đào tạo nghề luật sư ngay trong dự thảo luật là từ sáu đến 12 tháng. Có ý kiến đề nghị quy định thời gian là sáu hoặc chín tháng.

Những người được miễn đào tạo nghề luật sư cũng đã gây nhiều tranh cãi. Có ý kiến cho rằng, không nên quy định việc miễn học khoá đào tạo nghề luật sư cho những người đã được bổ nhiệm vào các ngạch điều tra viên trung cấp, thanh tra viên chính, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính và giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật. Có ý kiến lại đề nghị đối với những người đã là thẩm phán, kiểm sát viên từ năm năm trở lên mới được miễn học lớp đào tạo nghề luật sư.

Về vấn đề này, Uỷ ban thường vụ QH nhận thấy, trong điều kiện hiện nay, để góp phần phát triển đội ngũ luật sư, đặc biệt là đội ngũ luật sư ở các địa phương có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, thì việc tạo điều kiện cho những người đã có thời gian công tác pháp luật nêu trên hành nghề luật sư là cần thiết. Những người này phần lớn đã trải qua thời gian công tác pháp luật lâu năm, có trình độ, kiến thức và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật, do đó miễn học lớp đào tạo nghề luật sư cho họ là hợp lý.

Một vấn đề khác được nhiều đại biểu QH thảo luận là việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư (Điều 15). Hiện vẫn còn hai loại ý kiến khác nhau và Uỷ ban Thường vụ QH trình QH xem xét hai phương án. Một là, Bộ Tư pháp phối hợp với Liên đoàn luật sư Việt Nam tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư. Phương án này có ưu điểm là bảo đảm tính tập trung, thống nhất về chất lượng hành nghề của các luật sư giữa các vùng, miền và đây cũng là một trong những nội dung Nhà nước cần quản lý. Đồng thời để bảo đảm sự chặt chẽ trong việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, dự thảo luật đã bổ sung một điều quy định về Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư (Điều 15).

Hai là, cho Liên đoàn luật sư Việt Nam tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư. Phương án này có ưu điểm là phù hợp với chủ trương xã hội hoá hoạt động bổ trợ tư pháp đã được ghi trong các nghị quyết của Đảng, vừa bảo đảm sự tập trung, thống nhất về chất lượng hành nghề của các luật sư. Đồng thời đề cao vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư phù hợp với chủ trương của Đảng đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
(Nhân Dân)