Ngày làm việc thứ sáu, kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 12- Quốc hội cùng Chính phủ giám sát chặt chẽ vốn từ các gói kích cầu
(HP)-Hôm qua 26-5, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2009 trong những tháng đầu năm.
Băn khoăn về sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ
Nhiều đại biểu đề cập đến việc Chính phủ đề nghị bổ sung phát hành trái phiếu năm 2009 thêm 20 nghìn tỷ đồng, trong đó, đề nghị làm rõ cơ sở cũng như kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn trái phiếu này.
Đại biểu Lê Thanh Phong (Lâm Đồng) cho rằng, trong đề nghị của Chính phủ không nêu rõ sử dụng nguồn vốn này như thế nào để nhân dân và Quốc hội giám sát. Đại biểu Bùi Văn Tỉnh (Hòa Bình) thì cho rằng, việc huy động trái phiếu Chính phủ sẽ gặp khó khăn do tăng bội chi ngân sách Nhà nước như một số trường hợp đấu thầu trái phiếu Chính phủ thời gian qua. Mặt khác, số lượng lớn gói kích thích kinh tế, chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng dẫn đến nguy cơ lạm phát và khả năng hấp thụ kinh tế bị quá tải. Đại biểu Đỗ Mạnh Hùng (Thái Nguyên) đề nghị cần xác định rõ kế hoạch giải ngân trái phiếu nếu phát hành thêm. Đại biểu cho rằng, thực tế là mấy năm qua, việc giải ngân nói chung và giải ngân từ nguồn trái phiếu Chính phủ nói riêng chưa tốt. Theo số liệu của Chính phủ, giải ngân mấy năm vừa rồi chỉ đạt 54%. Như vậy, vấn đề chưa chắc đã là phải cho phép bội chi ở mức nào, mà là cho phép rồi, thì liệu Chính phủ có chi tiêu hiệu quả?
Lưu ý hệ số ICOR
Một số đại biểu nghiên cứu khá kỹ các chỉ số tăng trưởng và đề nghị Chính phủ lưu ý hệ số ICOR trong mấy năm gần đây. Đại biểu Đỗ Mạnh Hùng (Thái Nguyên) cho rằng, kích cầu có thể đẩy cao thêm hệ số ICOR. Chúng ta biết hệ số ICOR đang là một căn bệnh, một bất ổn trong phát triển kinh tế. Đáng chú ý là, nếu năm 1997 hệ số ICOR của Việt Nam là 3,5 thì từ năm 2005 đến nay hệ số đó liên tục tăng qua từng năm là 4,85; 5,04; 5,38 và năm 2008 đã là 6,68. Nếu so sánh với Đài Loan cũng là một nền kinh tế ở châu Á, thì lại càng thấy ICOR của chúng ta rất cao. Đại biểu đề nghị trong điều kiện kích cầu, nếu các dự án được lập ra có chất lượng kém, triển khai chậm, không đúng mục đích sẽ làm thất thoát, lãng phí nguồn vốn và lại đẩy hệ số ICOR lên cao. Quốc hội cùng Chính phủ phải giám sát và chỉ đạo chặt chẽ việc sử dụng vốn nói chung, đặc biệt là vốn từ các gói kích cầu.
Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (Yên Bái) thì cho rằng, căn cứ vào hệ số ICOR tính theo vốn đầu tư thực hiện trong giai đoạn 2000 – 2007, thì kinh tế quốc doanh là 7,8; kinh tế ngoài quốc doanh là 3,2; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 5,2. Đây là vấn đề cần có giải pháp khắc phục và hướng đầu tư trong thời gian tới vào lĩnh vực nào để có hiệu quả hơn.
Quan tâm đến sự minh bạch và hiệu quả các gói kích cầu
Nhiều đại biểu quan tâm đến hiệu quả của các gói kích cầu, sao cho chính sách đến được tận người cần. Đại biểu Phạm Thị Loan (Hà Nội) đề nghị, cần định dạng lại nền kinh tế để thấy rõ những khu vực yếu kém để tập trung hỗ trợ, xác định những ngành kinh tế mũi nhọn để có quan tâm đặc biệt và nhân cơ hội này, chúng ta tái cơ cấu lại nền kinh tế. Gói kích cầu vừa qua chỉ mới quan tâm đến những doanh nghiệp đang hoạt động bình thường. Một số doanh nghiệp mạnh thì sẽ mạnh. Nhưng những doanh nghiệp khó khăn, nguy cơ phá sản khó có điều kiện tiếp cận vốn, thì vẫn chưa được hỗ trợ. Đại biểu đề nghị Chính phủ xác định thêm gói kích thích kinh tế, trong đó xác định các ngành kinh tế mũi nhọn. Lập trật tự ưu tiên, ưu đãi hỗ trợ, đặc biệt cần quan tâm tái cơ cấu nền kinh tế bảo đảm chống suy thoái và phát triển bền vững. Cần tăng cường đầu tư hỗ trợ các ngành chế biến nông, lâm, thủy- hải sản, đầu tư vào thủy nông, hiện đại hóa sản xuất nông, lâm, thủy sản. Đầu tư hạ tầng cơ sở điện, đường, cầu cống, hệ thống nông nghiệp, các bệnh viện tuyến huyện, tuyến dưới. Tăng cường cho hạ tầng nông thôn, biên giới và kinh tế biển. Các ngành công nghiệp phục vụ cho hạ tầng cơ sở như điện, vật liệu xây dựng cũng cần được quan tâm. Còn những dự án kém hiệu quả, ô nhiễm môi trường thì nên hạn chế và loại bỏ. Không nên để gói kích cầu mang tính bình quân và thiếu trật tự ưu tiên, không nên chỉ miễn giảm chung như vậy.
Đại biểu Dương Kim Anh (Trà Vinh) đề nghị các gói kích cầu nên tập trung nguồn vốn cho nông dân vay để mua sắm vật tư, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và để nông dân tiếp cận được nguồn vốn này, đề nghị nên giảm bớt thủ tục vay vốn ở các ngân hàng. Chính phủ tăng cường đầu tư mạnh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa để xây dựng hạ tầng nông thôn. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng (Bình Dương) đề nghị phải tạo sự minh bạch, công khai trong triển khai và điều hành chính sách, nhất là giải ngân các gói kích cầu.
Đại biểu Trần Ngọc Vinh - TP Hải Phòng: Quan tâm bảo đảm an sinh xã hội
Tôi đề nghị Chính phủ cần quan tâm hơn nữa và có giải pháp tích cực mang tính chiến lược dài hơi đến một số vấn đề nhằm bảo đảm an sinh xã hội được bền vững:
Một là: do lạm phát tăng cao trong năm 2008 nên mức chuẩn nghèo đã lạc hậu, một số địa phương chủ động ban hành mức chuẩn nghèo của mình. Vì vậy, đề nghị Chính phủ sớm ban hành chuẩn nghèo phù hợp với thực trạng kinh tế và xã hội nước ta để thống nhất áp dụng trong cả nước, đồng thời rà soát và điều chỉnh lại một số chính sách về an sinh xã hội không còn phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay.
Hai là, Chính phủ đề nghị điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế từ 6,5% xuống 5% trong năm 2009, nhưng chưa thấy đề cập đến điều chỉnh chỉ tiêu giải quyết 1,7 triệu việc làm. Theo tôi, chắc chắn chỉ tiêu giải quyết việc làm trong nước sẽ có ảnh hưởng, chưa kể đến số lao động nước ngoài phải về nước vì lý do không có việc làm.
Ba là, phần lớn các doanh nghiệp gặp khó khăn, song những tháng cuối năm 2008 công nhân mất việc làm nhiều, trong khi đó chính sách cho vay lãi suất 0% chỉ được áp dụng trong năm 2009. Đề nghị Chính phủ xem xét để người lao động mất việc làm trong năm 2008 được vay với lãi suất ưu đãi nhằm giải quyết bớt khó khăn và có điều kiện tạo thêm việc làm mới.
Bốn là, Nhà nước có chính sách cho doanh nghiệp vay trong gói kích cầu để trả lương cho công nhân, song thực tế cho thấy rất ít doanh nghiệp vay. Tính đến nay, thành phố Hải Phòng mới chỉ có một doanh nghiệp vay để trả lương cho công nhân. Hơn thế nữa, năm nay bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực, nhưng điều kiện phải đóng đủ 12 tháng mới được lĩnh. Như vậy nhanh nhất phải đến ngày 1-1-2010 thì người đầu tiên tham gia loại hình bảo hiểm này mới nhận được tiền bảo hiểm thất nghiệp, trong khi đó Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xây dựng trên cơ sở Nhà nước hỗ trợ 1%, người sử dụng lao động đóng 1%, người lao động đóng 1%. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trốn và còn nợ rất lớn số tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động. Do vậy, liệu các doanh nghiệp có tiếp tục đóng 1% vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp hay không. Đề nghị Chính phủ đánh giá tác động thực sự chính sách đó có khả thi mang lại lợi ích cho đại đa số người lao động hay không.
Thứ năm, về vấn đề quản lý lao động trong nước và lao động nước ngoài. Chúng ta đã có nhiều chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài với mục tiêu là để nước ta tiếp cận được nguồn vốn, với công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến, tạo điều kiện cho người lao động trong nước có việc làm. Trong thời gian gần đây, nhiều lao động phổ thông nước ngoài đã vào làm việc tại nước ta. Tôi thấy người Việt