Ngày làm việc thứ 12, kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 12: Ứng xử xứng đáng với văn hóa phi vật thể

(HP)-Ngày 2-6, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa. Quốc hội cũng nghe Chính phủ báo cáo kết quả công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc.

Quyền sở hữu nhà cần gắn với quyền sử dụng đất

 

Thảo luận tại hội trường, các đại biểu tán thành chủ trương xây dựng, ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai. Các đại biểu coi đây là việc thể chế hóa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, coi người Việt Nam cư trú ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và cũng đáp ứng được nguyện vọng của kiều bào ta ở nước ngoài, mong muốn được đóng góp nhiều cho đất nước.

Tuy nhiên, nhiều đại biểu băn khoăn về vấn đề hạn chế quyền và nghĩa vụ của những người có quốc tịch Việt Nam quy định trong dự án luật. Đại biểu Triệu Sĩ Lầu (Cao Bằng) cho rằng điều này chưa phù hợp với chủ trương và pháp luật, Hiến pháp. Đại biểu Trần Văn Tấn (Tiền Giang) đề nghị Quốc hội xem xét và quy định cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định tại Điều 126 đã sửa đổi, bổ sung của Luật Nhà ở và Điều 121 đã được sửa đổi, bổ sung của Luật Đất đai, có quyền bảo lãnh bằng tài sản là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam. Đại biểu Ngô Đức Mạnh (Bình Phước) cho rằng khi quyết định đầu tư và bỏ tiền vốn để mua nhà ở tại Việt Nam thì quyền sở hữu nhà ở rõ ràng gắn liền với chủ đầu tư và như vậy quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất. Chúng ta không thể tách rời đất với nhà được, đó là hệ quả của việc cho phép mua nhà ở tại Việt Nam. Chính vì vậy, với tư cách là chủ sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất thì rõ ràng họ có những quyền dân sự như chuyển quyền sử dụng đất khi bán, tặng, cho, thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

 

Sẽ tác động đến thị trường nhà đất

 

Đại biểu Phạm Xuân Thường (Thái Bình) cho rằng người ở nước ngoài mua nhà ở Việt Nam nhưng chủ yếu do người ở trong nước sử dụng. Vì vậy, việc cho phép kiều bào được mua nhà ở tại Việt Nam có thể tác động tích cực đến thị trường nhà đất ở Việt Nam. Đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) băn khoăn nếu mở rộng đối tượng cho nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như đề xuất trong dự thảo sẽ làm xuất hiện một số trường hợp đầu cơ mua đi, bán lại nhà ở nhằm kiếm lời, dẫn đến tác động không tốt đến nhu cầu thực sự về nhà ở của người nghèo, người có thu nhập thấp trong nước. Vì vậy, đại biểu đề nghị cần có những giải pháp thiết thực để khắc phục những hạn chế đó.

 

Quy định thời gian cư trú chưa hợp lý

 

Một số đại biểu cho rằng quy định về thời gian cư trú để được phép mua nhà chưa hợp lý. Đại biểu Phạm Xuân Thường (Thái Bình) cho rằng, quy định đối với người nước ngoài nếu có giấy của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cho cư trú từ 3 tháng trở lên mới được mua nhà, chưa chặt chẽ. Bởi vì, quy định 3 tháng là quy định trên giấy, còn thực tế người có ở hay không thì không nắm được. Đại biểu cũng cho rằng, dự thảo luật quy định chỉ sử dụng cho bản thân và gia đình ở cũng không có tính khả thi. Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Nguyễn Kim Hồng (Đồng Tháp) cho rằng quy định thời gian “3 tháng” là chưa rõ, khó khăn cho kiều bào. Chẳng hạn,  cho phép cư trú 3 tháng, nhưng có chắc chắn họ cư trú liên tục được 3 tháng hay không? Có những trường hợp là nhà khoa học hoặc những trí thức, người về làm ăn, đầu tư thì chúng ta cấp thị thực 3 tháng trở lên hoặc 6 tháng nhưng xuất, nhập cảnh nhiều lần. Vì vậy, đại biểu đề nghị nếu quy định nhu cầu thực sự giải quyết cho người ta thì thêm một nội dung là được phép cư trú thực tế từ 3 tháng trở lên trong một năm.

Ứng xử xứng đáng với văn hóa phi vật thể

 

 Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, các đại biểu đều khẳng định đây là vấn đề rất quan trọng, liên quan tới sự tồn vong của nền văn hóa dân tộc. Nhiều ý kiến đề nghị dự án luật cần có những quy định rõ hơn về văn hóa phi vật thể và ứng xử xứng đáng với tầm vóc của văn hóa phi vật thể. Đại biểu Nguyễn Lân Dũng (Đắc Lắc) cho rằng, dự án luật có một số nội dung, nhận thức chưa đúng và không đầy đủ nội dung và khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể về nội hàm của khái niệm văn hóa phi vật thể đã nêu ra cả chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và cả trang phục truyền thống. Nếu coi văn hóa phi vật thể thì chỉ có thể là những kinh nghiệm, những suy nghĩ trong đầu các nhà văn, các nghệ sĩ khi chưa tạo thành các tác phẩm. Theo Công ước 2003 về di sản văn hóa phi vật thể mà nước ta đã tham gia, thì nội dung văn hóa phi vật thể thể hiện ở các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu. Trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật trình diễn, tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội, tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ, nghề thủ công truyền thống. Vì vậy, Điều 4, không nên sáng tác thêm các khái niệm không phải văn hóa phi vật thể.  Đại biểu Nguyễn Hội (Thừa Thiên Huế) khẳng định ý nghĩa đích thực của việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể là bảo vệ và phát huy linh hồn văn hóa của Tổ quốc, linh hồn của trí tuệ thực nghiệm, tự chủ và nhân văn. Linh hồn và giá trị ấy không phải chỉ có ở ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục, văn chương truyền khẩu, nghệ thuật dân gian, bí quyết nghề truyền thống, lễ hội v.v... như bản báo cáo thẩm tra đề cập mà còn có mặt trong một lĩnh vực rộng lớn hơn của dòng văn chương bác học mà tiếng nói của văn hóa dân gian hầu như cũng là tiếng nói của văn chương bác học…Đây là nội dung rộng lớn của di sản văn hóa phi vật thể, đòi hỏi một công trình thống kê, kiểm kê công phu và lâu dài mà riêng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khó có thể một mình đảm đương. Theo đại biểu, Việt Nam cần có Hàn lâm viện văn hóa, tư tưởng Việt Nam với nhiều hiểu biết đa ngành, chuyên sâu mới có thể gánh vác nổi. Đại biểu Đàm Thị Mỹ Hương (Ninh Thuận) cho rằng, luật sửa đổi quy định cho hoạt động này chưa được cụ thể từ cách tiếp cận quy định về di sản văn hóa phi vật thể đến quy định cách tổ chức  bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể. Trên thực tế,  nhiều di sản văn hóa phi vật thể đang có xu hướng bị mai một, thất truyền, thậm chí ngôn ngữ dân tộc cũng đang có xu hướng bị pha tạp và coi nhẹ, đồng thời các nghệ nhân dân gian giữ bí quyết và truyền bá văn hóa dân tộc cũng chưa được đề cao và tạo điều kiện phát huy một cách đúng mức. Trong dự thảo luật sửa đổi lần này, cũng chưa đề cập vấn đề này. Ban soạn thảo cần khảo sát và đánh giá thực chất hơn để bổ sung vào dự thảo luật, quy định trách nhiệm bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cụ thể hơn để khi được Quốc hội thông qua và luật này đi vào cuộc sống di sản văn hóa được bảo vệ đúng mực hơn.

 

 

Đại biểu Phan Trọng Khánh- thành phố Hải Phòng:  Quy định rõ tránh tình trạng lách luật

 

 Về Điều 32, các khu vực bảo vệ di tích, theo dự thảo, khu vực bảo vệ 1 không được xây dựng mà phải giữ nguyên trạng về mặt bằng và không gian. Nhưng trong trường hợp đặc biệt thì vẫn có thể xây dựng nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Theo tôi, khu vực bảo vệ 1 không được phép xây dựng bất cứ loại công trình gì. Không thể có ngoại lệ trong điều này, vì khu vực 1 là khu vực có di tích chính, gọi là vùng lõi của quần thể di sản văn hóa, sau đó là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích nên khu vực 1 là vùng gồm di tích và các yếu tố gốc cấu thành di tích. Do đó khu vực bảo vệ 1 phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian. Đề nghị không nên tạo khe hở cho việc lách luật. Chỉ cho phép xây dựng ở khu vực bảo vệ 2, nhưng phải có quy hoạch, thiết kế phù hợp với di tích và các yếu tố gốc cấu thành di tích, được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Cần quy định khoảng cách xây dựng tối thiểu với khu vực bảo vệ 1 vì ranh giới giữa khu vực 2 và vùng tiếp giáp với khu vực 1 chỉ là tương đối, nếu không quy định  sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng trong quá trình xây dựng.