Ngày làm việc thứ 11 kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa 12: Lo nguy cơ lạm phát và giảm phát
Trong ngày 28-10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2008, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009. Nhiều ý kiến phát biểu, phân tích rất sâu sắc, trong đó có nhiều ý kiến quan tâm về thực lực của nền kinh tế, hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp nhà nước….
Đại biểu Vũ Hoàng Hà (Bình Định) cho rằng, chúng ta mới kiềm chế chứ chưa thực sự đẩy lùi được lạm phát. Bởi lẽ cuối năm 2007 chỉ số lạm phát của chúng ta là 12,7% và đến cuối năm 2008 thì theo ý kiến của Thủ tướng yêu cầu chúng ta cố giữ dưới 24%. Việc đó chúng ta sẽ làm được, nhưng nếu chúng ta đạt 23% hoặc 24% thì chỉ số lạm phát cũng tăng gần gấp đôi so với năm 2007. Chín tháng vừa qua chỉ số giá tiêu dùng của chúng ta là 21,87%, tháng 10 thì âm, có nghĩa là thấp hơn tháng 9 là 0,19%, nhưng mười tháng thì chỉ số giá tiêu dùng vẫn là 21,64%. Đại biểu cho rằng, không chỉ tiềm ẩn nguy cơ về lạm phát vẫn còn cao, mà chúng ta còn đứng trước nguy cơ dẫn tới giảm phát. Dù cho là giảm phát hay lạm phát thì cũng rất nguy hiểm. Do đó cho nên chúng ta cần phải có nhiều phương án để đề phòng và để đối phó. Đại biểu Triệu Sỹ Lầu (Cao Bằng) cũng cho rằng, báo cáo của Chính phủ cũng đã chỉ ra mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 là 0,18%, vậy nền kinh tế của ta đang có nguy cơ chuyển từ lạm phát sang giảm phát, giữa lạm phát và giảm phát thì giảm phát có nguy cơ hơn, bởi nó sẽ kéo theo những hệ lụy lớn làm nền kinh tế không phát triển, công ăn việc làm sẽ khó, các doanh nghiệp sẽ phá sản. Để kiểm soát tốt hơn về lạm phát, Chính phủ nên rạch ròi và kiểm soát tận gốc rễ nguyên nhân của lạm phát, những tháng đầu năm Chính phủ đã tập trung vào chống lạm phát và xoáy mạnh vào các biện pháp tiền tệ và thắt chặn chính sách tiền tệ. Thực tế chứng minh lạm phát không chỉ bắt đầu từ các ngân hàng, mà lạm phát còn bắt nguồn từ hiệu quả đầu tư thấp kém của nhiều dự án đầu tư công và sự đầu tư tràn lan, mang cả tính chất đầu cơ của các doanh nghiệp tập đoàn quốc doanh. Nếu những sự đầu tư này được Nhà nước kiểm soát một cách chặt chẽ và kiên quyết hơn, thì việc chống lạm phát còn đạt hiệu quả cao và sản xuất kinh doanh không bị đình trệ.
Cùng với việc phân tích khả năng thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội, nhiều đại biểu cũng chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và giải pháp trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, công tác dự báo, điều hành của Chính phủ…
Phải có giải pháp trong lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước
Vấn đề hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước được nhiều đại biểu quan tâm. Đại biểu Nguyễn Văn Nhượng (Quảng Bình). Đỗ Mạnh Hùng (Thái Nguyên)… cho rằng, khối doanh nghiệp Nhà nước được Đảng và Nhà nước xác định là ngành kinh tế đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế. Trong nhiều năm qua chúng ta đã dồn vốn, tập trung để cổ phần hoá, nâng cao hiệu lực sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế lớn, các Tổng công ty. Nhưng xét thấy vừa qua chúng ta chưa đạt được điều này, thậm chí hiệu quả đầu tư nếu so sánh thì nhiều doanh nghiệp nhà nước, nhất là những công ty lớn, những tổng công ty và những tập đoàn kinh tế lớn là hiệu quả thấp nhất. Đại biểu cũng cho rằng, dư luận còn băn khoăn về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp nhà nước, các tổng công ty lớn, có người còn băn khoăn cả chuyện bảo lãnh của Chính phủ, bảo lãnh vốn vay của một số tập đoàn lớn. Vì vậy, các đại biểu tán thành với chương trình giám sát tối cao của Quốc hội trong năm 2009 là phải tập trung vào giám sát về lĩnh vực này và đề nghị Chính phủ sớm ban hành nghị định về cơ chế quản lý và hoạt động của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước theo hướng dần dần xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp và giảm hỗ trợ của nhà nước, đồng thời công khai các hoạt động của các doanh nghiệp này. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng (BÌnh Dương) đồng tình với quan điểm này và cho rằng, doanh nghiệp Nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển và không nên chèn ép và gây khó khăn. Như vậy mới tương xứng với vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân của các doanh nghiệp Nhà nước, cho nên doanh nghiệp Nhà nước phải được điều chỉnh hoạt động trong khuôn khổ pháp lý phù hợp với sở trường ngành nghề. Từ đó không thể sao nhãng nhiệm vụ chính trị để rồi mặc sức đầu tư vào những lĩnh vực không thuộc sở trường, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản v.v...Đại biểu thẳng thắn: Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư đã hứa với Quốc hội sẽ có ngay văn bản quản lý các tập đoàn và tổng công ty cũng như các doanh nghiệp Nhà nước, nhưng đến nay đã có chưa? Đại biểu đề nghị, mỗi kỳ họp cuối năm của Quốc hội thì Chính phủ cần có văn bản báo cáo về hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước nhất là hoạt động của các tập đoàn và tổng công ty.
Một số chính sách an sinh chưa hiệu quả, cần giải pháp cho “nghèo kép”
Nhiều đại biểu bày tỏ ủng hộ, phấn khởi trước những chính sách bảo đảm an sinh xã hội của Chính phủ. Tuy nhiên, chính sách có khi đến chậm, hoặc chưa phát huy hết hiệu quả trong thực tế. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng (Bình Dương) đưa ra cụm từ"nghèo kép", tức là vì cái chất nghèo này bị nhân lên nhiều lần bởi áp lực từ sự quá tải của các cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội những vùng công nghiệp tập trung. Sự quá tải, cái nghèo kép có thể tạo nên sự bức xúc xã hội không đáng có để hình thành và lây lan nhanh những tâm lý, tinh thần tiêu cực trong hàng triệu người lao động. Điều đó có thể tác động xấu đến sự ổn định chính trị và xã hội của đất nước. Do vậy Quốc hội, Chính phủ cần chú ý đến nghèo kép và quan tâm giảm dạng nghèo này. Đại biểu Nguyễn Hữu Phước (Bến Tre) cho rằng, thời gian vừa qua Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đưa ra những giải pháp tích cực để hỗ trợ các doanh nghiệp thu mua sản phẩm cho nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần ổn định cuộc sống cho họ. Cụ thể là đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp thu mua cá tra quá lứa, lúa tồn đọng của người nông dân. Song, có một thực tế là cá quá lứa người dân phải năn nỉ các nhà máy sớm thu mua cho họ, có khi cả tháng sau mới có tiền vì nếu để nuôi càng bị lỗ. Còn đối với lúa tồn đọng, mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo mạnh mẽ, có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp thu mua nhưng doanh nghiệp vẫn chờ thời và chậm chạp, còn nông dân luôn có tâm lý sợ giá tiếp tục giảm nên bán ồ ạt mặc dù họ đã lỗ và do đó giá tiếp tục giảm và bị lỗ nhiều hơn. Từ thực tế đó cho thấy rằng việc Chính phủ có chính sách hỗ trợ đầu tư cho doanh nghiệp trong thu mua sản phẩm cho nông dân thời gian qua là chưa thật sự có lợi cho người nông dân. Nguyễn Tiến Quân (Quảng
Nhiều đại biểu quan tâm đến hiệu quả của các chương trình 135, chương trình hỗ trợ ngư dân, chương trình giả quyết việc làm cho 1,7 triệu lao động….và đề nghị phải có những giải pháp để thực hiện tốt hơn những chương trình này.
Hôm nay, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường.
Đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng): Tăng cường đầu tư cho biển, đảo
Trong những năm qua, Chính phủ quan tâm đầu tư thúc đẩy kinh tế xã địa phương còn gặp nhiều khó khăn là chính sách đúng đắn.Tuy nhiên với vùng biển đảo Chính phủ đã chú ý đầu tư, nhưng theo tôi sự đầu tư đó vẫn chưa tương xứng với tầm vóc, vị trí quan trọng của nó. Trong báo cáo của Chính phủ chỉ nói đển các vùng đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng mà ít nói về biền, vùng ven biển, đảo và ngư dân. Trong khi đó Nghị quyết trung ương 4 khóa 10 về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định tăng tỷ trọng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển cơ sở hạ tầng khu vực biển đảo. …..hàng chục năm qua chúng ta đã đầu tư vào một số lĩnh vực nhưng không được bao nhiêu. Ngược lại chúng ta thu từ biển rất nhiều. Tôi lấy ví dụ như chương trình biển Đồng Hải đảo hỗ trợ cho 28 tỉnh thành ven biển, các hải đảo, các cơ quan liên quan đến biển…năm 2007 là 1380 tỷ, năm 2008 là 1200 tỷ, năm 2009 dự kiến 1450 tỷ (tăng 20,8% so với năm 2008 nhưng chỉ tăng 5,4% so với 2007), nếu tính trượt giá thì thực tế không tăng.
Tôi kiến nghị nên tách việc đầu tư cho lực lượng cảnh sát biển ra 1 chương trình riêng. Vì đây là lực lượng mới được thành lập để thực thi pháp luật trên biển, rất quan trọng. Hằng năm đầu tư ít nhất 1 nghìn tỷ đồng. Nếu ghép vào chương trình biển Đông Hải đào thì các nội dung khác sẽ hầu như không có gì. Trong khi đó, chúng ta thu từ dầu khí từ biển rất nhiều: 101 nghìn tỷ đồng (không kể một số thu khác), trong đó vượt thu (do giá dầu từ 64 USD/thùng lên 111 USD/ thùng là 35 nghìn tỷ đồng) lẽ nào chúng không trích được số lẻ 5 nghìn tỷ đồng để xây dựng lực lượng cảnh sát biển và chương trình biển Đông, hải đảo…