Ngành Tư pháp: Khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong tham mưu kiến tạo thể chế phát triển đất nước
Trong bối cảnh đất nước đứng trước những yêu cầu phát triển mới, ngành Tư pháp tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt trong tham mưu hoàn thiện thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, Uỷ viên Ban chấp hành TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh đã có cuộc trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam, đề cập đến những kết quả nổi bật năm 2025 và định hướng trọng tâm của ngành năm 2026.
Tạo cơ sở chính trị vững chắc công cuộc cải cách thể chế
- Thưa Bộ trưởng, trong năm 2025, Bộ, ngành Tư pháp đã có những đóng góp nổi bật nào trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật?
Trong năm 2025, Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo triển khai nhiều quyết sách chiến lược mang tính đột phá, nhất là việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đặt ra yêu cầu cấp bách, nặng nề và chưa từng có tiền lệ đối với công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật. Trước yêu cầu đó, Bộ, ngành Tư pháp đã bám sát chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành và đạt nhiều kết quả nổi bật:
Một là, tham mưu các chủ trương, định hướng chiến lược về công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Bộ Tư pháp đã tham mưu Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66/NQ-TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Qua đó, đã tạo cơ sở chính trị vững chắc công cuộc cải cách thể chế sâu sắc, trong đó khẳng định nguyên tắc lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Đảng đối với công tác xây dựng pháp luật; chuyển mạnh tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo, phục vụ phát triển”, tháo gỡ vướng mắc trên cơ sở bám sát thực tiễn, “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”. Đây là những nền tảng quan trọng để hoàn thiện thể chế phát triển đất nước và cũng là quan điểm xuyên suốt của công tác xây dựng pháp luật trong năm 2025 vừa qua. Qua tổng kết cho thấy, 100% nhiệm vụ của năm 2025 (40/40 nhiệm vụ) triển khai thực hiện Nghị quyết 66-NQ/TW đã được hoàn thành đúng tiến độ.
Bộ Tư pháp cũng đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025, tạo cơ chế đặc biệt về tài chính, nguồn nhân lực trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, đã làm tốt vai trò Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, tham mưu Ban Chỉ đạo họp 03 phiên và cho định hướng đối với 19 nội dung quan trọng…
Hai là, tham gia tích cực vào việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Bộ Tư pháp đã chủ trì tổng hợp hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý của Nhân dân, các cấp, các ngành về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp thông qua VneID và nhiều phương thức lấy ý kiến với tỷ lệ tán thành rất cao (99,75%); xây dựng Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 quy định các nguyên tắc cơ bản để xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, nhằm không tạo khoảng trống pháp lý, không làm gián đoạn hoạt động của cơ quan nhà nước, người dân, doanh nghiệp.
Đặc biệt, trong thời gian ngắn, Bộ Tư pháp đã chủ động, quyết liệt tổ chức thẩm định số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội, Chính phủ ban hành trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, trong đó có “chùm” các Nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền. Qua đó, phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương các cấp, khơi thông mọi nguồn lực để địa phương phát triển, bảo đảm phù hợp với thực tiễn.

Ba là, tham mưu đổi mới toàn diện quy trình xây dựng pháp luật.
Bộ Tư pháp đã tham mưu sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật với nhiều đổi mới mạnh mẽ về quy trình xây dựng pháp luật, đặt trách nhiệm chủ yếu đối với cơ quan trình dự án luật, đơn giản hóa thủ tục trong các bước, rút ngắn thời gian xây dựng văn bản; chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng chính sách để làm cơ sở quy phạm hóa thành pháp luật, bổ sung hình thức văn bản quy phạm pháp luật và thủ tục đặc biệt để giải quyết được vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Qua đó, đã giúp đẩy nhanh việc thể hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật và kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng công tác xây dựng pháp luật. Trong năm 2025, Bộ Tư pháp đã góp ý kiến, thẩm định và rà soát kỹ thuật đối với 99 Luật, nghị quyết do Chính phủ trình Quốc hội, 377 Nghị định, 18 Nghị quyết quy phạm pháp luật của Chính phủ, đóng góp tích cực vào việc hoàn thành đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước.
Bốn là, chủ động đề xuất cơ chế “ủy quyền lập pháp” để tháo gỡ “điểm nghẽn”, xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật
Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, đến nay, đã có 11 Nghị quyết của Chính phủ được ban hành theo cơ chế này, góp phần xử lý ngay những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn trong thời gian Quốc hội chưa họp. Đồng thời, lần đầu tiên, các “điểm nghẽn” do chính quy định pháp luật tạo ra đã được rà soát, nhận diện; qua tổng hợp, có 787 phản ánh, kiến nghị được xác định có khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật cần xử lý; đã xử lý được 462/470 phản ánh, kiến nghị (chiếm 98,3%) cần xử lý ngay trong năm 2025, hoàn thành mục tiêu “Năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật” được xác định tại Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, rất nhiều cơ chế thí điểm, đặc thù được ban hành để giải quyết vấn đề cấp bách thực tiễn đặt ra, như các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số; việc thành lập Trung tâm tài chính quốc tế, vấn đề tài sản mã hóa…

Năm là, chú trọng công tác nghiên cứu, tham mưu các đề án chiến lược.
Bên cạnh việc chú trọng xử lý tình huống những vấn đề cấp bách trong thực tiễn, Bộ Tư pháp đã chú trọng nghiên cứu, tham mưu những vấn đề mang tính hệ thống, chiến lược, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước. Trong thời gian ngắn, Bộ Tư pháp đã huy động lực lượng lớn chuyên gia, nhà khoa học xây dựng, hoàn thiện Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” để trình cấp có thẩm quyền, nhằm xác lập cơ sở chính trị cho việc xây dựng Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới trên cơ sở những quyết sách chiến lược của Đại hội XIV.
Sáu là, chú trọng nâng cao tính minh bạch, công khai, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật.
Bộ Tư pháp đã chính thức vận hành Cổng pháp luật quốc gia kết nối với VNeID, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận chính sách, pháp luật trên môi trường số; sử dụng công cụ AI pháp luật để hỗ trợ tư vấn pháp lý chuyên sâu trong 26 lĩnh vực, giúp truy vấn thông tin pháp lý một cách nhanh chóng dễ dàng và tiết kiệm chi phí. Đồng thời, lần đầu tiên đưa Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật vào vận hành chính thức; đến nay, Hệ thống đã tiếp nhận 1.703 phản ánh, kiến nghị; các bộ, cơ quan đã xử lý 1.382 nội dung, đang xử lý 321 nội dung. Các phản ánh, kiến nghị đều được các Bộ, ngành trả lời công khai, được người dân, doanh nghiệp đánh giá cao, qua đó, góp phần tạo “kênh” tương tác trực tuyến minh bạch, hiện đại giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp.
Bảy là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Bộ Tư pháp đã đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, giúp đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm chi phí cho người dân; 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến; tỷ lệ hồ sơ đăng ký trực tuyến giao dịch bảo đảm luôn đạt trên 80%. Nâng cấp, mở rộng, phát triển, triển khai các Hệ thống thông tin, phần mềm ứng dụng như: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật; Phần mềm hỗ trợ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; Hệ thống thông tin đấu giá tài sản; Nền tảng số thi hành án dân sự…. Với vai trò là cơ quan được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, Bộ Tư pháp đã tích cực triển khai các nhiệm vụ, tập trung vào việc sử dụng dữ liệu số và đã thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa 817 thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, nhằm rút ngắn thời gian giải quyết, đơn giản hóa quy trình, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp.
Tám là, thực hiện tốt vai trò cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ trong nhiều vụ tranh chấp đầu tư quốc tế
Bộ Tư pháp đã làm tốt vai trò cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ trong một số vụ tranh chấp đầu tư quốc tế với việc các cơ quan tài phán quốc tế tuyên Việt Nam không phải bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn lên đến nhiều tỷ đô la Mỹ. Qua đó, cho thấy những nỗ lực không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp quốc tế; đồng thời, khẳng định công tác lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương trong suốt quá trình tố tụng.

Công tác Thi hành án dân sự: vượt chỉ tiêu đề ra
- Năm vừa qua, một trong những dấu ấn quan trọng của hệ thống thi hành án dân sự là thay đổi về mô hình tổ chức, cùng với đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn ngành. Xin Bộ trưởng cho biết những kết quả sau gần một năm triển khai mô hình tổ chức mới và đẩy mạnh chuyển đổi số trong THADS?
Thực hiện Kết luận 162-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả, cơ quan thi hành án dân sự được đổi mới mạnh mẽ theo mô hình 02 cấp (Trung ương và cấp tỉnh), trong đó tổ chức lại Tổng cục thành Cục Quản lý THADS ở Trung ương, giảm từ 63 Cục THADS xuống còn 34 Thi hành án dân sự ở cấp tỉnh, giảm 338 Chi cục THADS cấp huyện và tổ chức thành 355 Phòng THADS khu vực là đơn vị thuộc Thi hành án dân sự cấp tỉnh; giảm 111 Phòng chuyên môn, hiện còn 159 phòng chuyên môn trong Thi hành án dân sự cấp tỉnh. Đây là một quyết định rất khó khăn, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh chuyển đổi số và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ để bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả trong giai đoạn mới.
Song hành với tinh gọn tổ chức bộ máy, chuyển đổi số được xác định là giải pháp then chốt. Ngành thi hành án dân sự đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong công tác quản lý, góp phần giải quyết kịp thời yêu cầu của người dân, doanh nghiệp, nhất là trong các vụ án lớn như Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh,… Toàn ngành đã triển khai các phần mềm ra quyết định thi hành án điện tử, biên lai điện tử với hơn 215.148 quyết định thi hành án, hơn 613.968 biên lai điện tử được ban hành thay cho bản giấy, tương đương với số tiền 32.853 tỉ đồng. Đặc biệt, việc xây dựng và vận hành Nền tảng số trong lĩnh vực thi hành án dân sự và Trung tâm Giám sát, Điều hành thông minh Hệ thống thi hành án dân sự trên quy mô toàn quốc là bước đột phá, nhằm hình thành Cơ sở dữ liệu thi hành án dân sự đúng - đủ - sạch - sống, thống nhất dùng chung được quy định tại Nghị quyết 71/NQ-CP sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đặc biệt, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 10 với 09 điểm mới cơ bản, nhằm thể chế hóa Kết luận số 162-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị về mô hình cơ quan THADS một cấp ở địa phương; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ trong hoạt động thi hành án dân sự; đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí tổ chức thi hành án; tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa một số hoạt động THADS và nhiều quy định quan trọng khác, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự trong thời gian qua.
Có thể khẳng định, với cơ sở chính trị từ Kết luận 162-KL/TW của Bộ Chính trị, cơ sở pháp lý từ Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) và sự nỗ lực vượt khó của toàn ngành, công tác thi hành án dân sự năm 2025 đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Cụ thể: đã thi hành xong 576.884 việc, đạt tỉ lệ 84,27%, tăng 0,39%; đã thi hành xong 150.061 tỷ đồng, đạt tỉ lệ 56,62%, tăng 4,78% so với năm 2024.
Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh:
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ, thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Bộ Tư pháp, tôi xin gửi tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Tư pháp và gia đình lời chúc mừng năm mới sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Tôi đánh giá cao và trân trọng ghi nhận những nỗ lực không ngừng nghỉ, tinh thần trách nhiệm vì công việc chung và những cống hiến thầm lặng mà mỗi đồng chí đã dành cho Bộ, ngành trong thời gian qua, đóng góp quan trọng vào kết quả đạt được của Bộ, ngành Tư pháp, đồng hành cùng sự phát triển chung của đất nước.
Bước vào năm mới 2026 và giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức, tôi tin tưởng sâu sắc rằng, với bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần đoàn kết và khát vọng cống hiến, toàn ngành Tư pháp sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, năng động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tiếp tục nâng cao vị trí, vai trò của ngành Tư pháp, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Một lần nữa, kính chúc các đồng chí và gia đình một năm mới an khang, thịnh vượng, hạnh phúc và gặt hái nhiều thành công mới!
Tập trung xây dựng “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới”
- Năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030 có vai trò đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xin Bộ trưởng cho biết các nhiệm vụ mang tầm chiến lược mà Bộ, ngành Tư pháp xác định tập trung thực hiện?
Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trong bối cảnh đất nước đứng trước những thay đổi mang tính thời đại, Bộ, ngành Tư pháp xác định rõ phải thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong tham mưu kiến tạo đồng bộ thể chế phát triển đất nước, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Trên tinh thần đó, Bộ, ngành Tư pháp tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, tập trung xây dựng “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới” để xác định những nguyên tắc, định hướng lớn và những nội dung, nhiệm vụ trọng tâm, với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật với cấu trúc hợp lý, đầy đủ, dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, ổn định, nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, mở đường cho kiến tạo phát triển, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đồng thời, làm cơ sở để định hướng xây dựng các Định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và thích ứng với yêu cầu của thực tiễn trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, quan tâm, đầu tư về kỹ thuật lập pháp và soạn thảo văn bản theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, khả thi, hiệu quả. Theo đó, tập trung xây dựng, hoàn thiện Sổ tay soạn thảo pháp luật quốc gia, các bộ tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật lập pháp và các đề án liên quan nhằm phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật. Việc triển khai phải bảo đảm tính khoa học, thực tiễn, dễ áp dụng, thống nhất trong toàn hệ thống, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Qua đó, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tham mưu xây dựng pháp luật.
Thứ ba, tập trung hoàn thiện thể chế và thực hiện hiệu quả hoạt động hợp nhất văn bản. Theo đó, việc hợp nhất văn bản được đổi mới mạnh mẽ theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật; được trình cơ quan, người có thẩm quyền đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung; đơn giản hóa kỹ thuật hợp nhất; bổ sung quy định về việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luât của cơ quan nhà nước ở địa phương và mở rộng đối tượng văn bản được hợp nhất, bảo đảm văn bản hợp nhất thể hiện đầy đủ, toàn diện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luât đã được thay đổi về hiệu lực, nội dung. Qua đó, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, công chức khi áp dụng pháp luật, góp phần thực hiện đúng chủ trương “lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm trong thiết kế chính sách”.
Thứ tư, tiến hành tổng rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam; tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật; xây dựng Đề án dữ liệu lớn về pháp luật; chuyển đổi số toàn diện trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giải đáp pháp luật. Phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia với tính chất là đầu mối trung tâm trong thông tin chính sách, pháp luật; tạo kênh tương tác giữa Nhà nước và người dân, doanh nghiệp trên môi trường số; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, tạo lập diễn đàn hiến kế về thể chế, chính sách trên môi trường số.
- Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!