Ngành thuỷ sản Hải Phòng loay hoay cân đối “chất và lượng”
Năm 2009, chỉ tiêu thành phố về phát triển kinh tế thủy sản với nhịp độ tăng trưởng 7 %, so với quy hoạch ngành đề ra và định hướng phát triển trong chương trình xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm thuỷ sản vùng duyên hải Bắc Bộ (2006-2010), mức tăng trưởng này đã giảm 9-10%/năm.
Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia trong ngành, mức kế hoạch thành phố giao như vậy khó bứt phá thực hiện bởi năm 2008, thuỷ sản Hải Phòng tiếp tục duy trì “chuỗi thành tích” nhiều năm không hoàn thành kế hoạch.
Điều chỉnh kế hoạch, vẫn không hoàn thành
Năm 2009, thành phố đề ra mục tiêu phấn đấu sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 8,09%; giá trị sản lượng nuôi trồng tăng 9,04%; sản lượng thủy sản khai thác tăng 6%, giá trị khai thác tăng 8%; chế biến thủy sản 42 triệu USD, tăng 1 triệu so với năm 2008. Nhưng so với mức tăng trưởng trong quy hoạch, các nhiệm vụ này đều thấp hơn và, theo nhiều chuyên gia, chỉ tiêu này vẫn cao so với khả năng hiện có của ngành. Thực tế, nhiều năm qua, ngành thủy sản Hải Phòng liên tục không hoàn thành kế hoạch. Chẳng hạn, năm 2008, thành phố và ngành thủy sản điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất xuống còn 13% (quy hoạch 18-20%), nhưng kết quả vẫn không đạt…Tổng sản lượng thủy sản 81.837 nghìn tấn, tăng 8% so với năm 2007 và vượt 4,6% kế hoạch năm. Song về giá trị chỉ bằng hơn 91% kế hoạch. Trong đó, giá trị sản lượng khai thác chỉ đạt 96% kế hoạch, giá trị sản lượng nuôi trồng 87% kế hoạch. Giá trị từ chế biến thủy sản cũng không hoàn thành kế hoạch. Trước đó, năm 2007, sau khi điều chỉnh mức tăng trưởng từ 15-16% xuống còn 14%, ngành cũng không hoàn thành kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng thuỷ sản năm 2007 chỉ 11%. Như vậy, tất cả các chỉ tiêu về giá trị sản lượng đều không đạt kế hoạch .
Trưởng phòng kinh tế kỹ thuật thủy sản Đào Bá Điện cho rằng, thực tế những năm qua, đặc biệt là năm 2008, thuỷ sản Hải Phòng chủ yếu phát triển bề rộng số lượng mà chưa đạt chiều sâu, về mặt chất lượng. Đây chính là nguyên nhân khiến ngành khó đạt kế hoạch. Năm 2008, sản lượng thủy sản khai thác hơn 42 nghìn tấn, tăng 10,5% so với năm 2007, nhưng chủ yếu về sản lượng khai thác vùng gần bờ và ven lộng, giá trị kinh tế thấp chiếm 53%. Với nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi năm 2008 tăng 232 ha, sản lượng nuôi cũng tăng 5,71% so với năm 2007 nhưng chủ yếu là nhờ diện tích và sản lượng cá nước ngọt. Các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao nuôi theo phương pháp thâm canh ở khu vực nước mặn, nước lợ đều bị giảm diện tích, sản lượng do bị phá vỡ quy hoạch, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh…Giải quyết bài toán cân đối giữa “chất’ và “lượng”nhiều năm qua luôn là khó khăn với thủy sản Hải Phòng..
Phát sinh khó khăn mới
Theo ông Đào Bá Điện, đầu năm 2009, hàng loạt những khó khăn mới xuất hiện. Trong khi các địa phương mạnh về khai thác vươn khơi trên cả nước được mùa cá ngừ đại dương nhờ thời tiết thuận lợi thì khai thác thủy sản Hải Phòng đành ngậm ngùi tiếc vì phương tiện vươn khơi ít. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp- PTNT, đến cuối năm 2008, số lượng tàu đánh cá trên địa bàn Hải Phòng tăng 1000 chiếc so với năm 2006, nhưng có 73% là tàu công suất dưới 20CV, chủ yếu khai thác ven bờ. Số lượng tàu này quá nhiều trong khi nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng cạn kiệt. Vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản bắt đầu rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu, sản xuất cầm chừng, không hoạt động hết công suất thiết kế, phải cắt giảm nhân công. 5 dự án nuôi thủy sản công nghiệp được đầu tư lớn đều đang dở dang, kém hiệu quả, các vùng nuôi thủy sản lớn đều bị phá vỡ quy hoạch. Ngoài ra, ngay từ đầu vụ nuôi, đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trường, con giống thiếu, không bảo đảm chất lượng… Những khó khăn này, đang là thách thức cho ngành thực hiện chỉ tiêu kế hoạch năm 2009.
Tuy nhiên, ngành Nông nghiệp- PTNT đang nỗ lực triển khai hàng loạt các giải pháp thích hợp. Trong khai thác thủy sản, thành phố tăng cường quản lý, phát triển đội tàu, khuyến khích phát triển tàu vươn khơi, nâng cấp công suất máy, áp dụng các kỹ thuật, công nghệ mới trong khai thác, liên kết tìm kiếm ngư trường mới. Trong nuôi trồng thủy sản, ngành sớm hòan thành quy hoạch phát triển nuôi thủy sản biển, phát triển giống thủy sản; rà soát lại các dự án nuôi thủy sản công nghiệp, có biện pháp phát triển phù hợp; ứng dụng công nghệ mới trong các vùng nuôi còn phù hợp quy hoạch; tăng cường quản lý nguồn giống, gắn phát triển nuôi với bảo vệ môi trường. Đối với chế biến, xuất khẩu thủy sản, ngành tập trung sắp xếp lại các doanh nghiệp lớn, giúp các doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, ổn định nguồn nguyên liệu; áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, bảo đảm vệ sinh an tòan trong quá trình sản xuất để xuất khẩu vào thị trường tiềm năng thuộc các nước châu Âu, Nhật Bản…./.
Hoàng Yên