Nga lúng túng với lao động nhập cư

Hiện nay tại Nga đang diễn ra cuộc tranh luận gay gắt về việc nên hay không từ bỏ hạn ngạch đối với lao động nhập cư. Còn Cơ quan Di trú liên bang (FMS) thì đang soạn thảo chiến lược mới trong chính sách nhập cư mà theo đó hạn ngạch sẽ bị bãi bỏ.

Hiện nay tại Nga đang diễn ra cuộc tranh luận gay gắt về việc nên hay không từ bỏ hạn ngạch đối với lao động nhập cư. Còn Cơ quan Di trú liên bang (FMS) thì đang soạn thảo chiến lược mới trong chính sách nhập cư mà theo đó hạn ngạch sẽ bị bãi bỏ.

Giới chủ, đặc biệt là các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoan nghênh quan điểm của FMS. Họ cho rằng chính sách hạn ngạch chẳng đem lại điều gì tốt đẹp, trái lại nó tạo điều kiện cho các quan chức tham nhũng. Trong khi đó Bộ Y tế và Phát triển xã hội kiên quyết đòi giữ hạn ngạch đối với lao động nhập cư bởi “chẳng có cách gì kiểm soát thị trường lao động”. Các chuyên gia độc lập nhận xét rằng sự “ông chẳng bà chuộc” giữa các ngành cho thấy Nga vẫn chưa xác định được hướng ưu tiên trong chính sách nhập cư.

Lý lẽ của FMS rất rõ ràng: Nếu một cơ chế không có tác dụng thì tốt nhất là loại bỏ nó. Hiện tại hạn ngạch đối với người nhập cư gây hại chủ yếu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong bối cảnh hiện nay họ hoàn toàn không có cơ hội để thu hút lao động nước ngoài một cách hợp pháp. Bởi vậy thay cho cơ chế hiện tại IMF đưa ra cả một hệ thống cơ chế khác nhau nhưng có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Cụ thể là tuyển dụng có tổ chức lao động nước ngoài tại quê hương họ, thu hút nhân công theo mùa vụ, soạn chương trình dành riêng cho sinh viên ngoại quốc…

Trong khi đó Bộ Y tế và Phát triển xã hội lại khẳng định: Giới chủ có lỗi nếu phát sinh vấn đề trong việc tuyển dụng công nhân nước ngoài còn hạn ngạch là công cụ để điều chỉnh tình hình trên thị trường lao động. Chẳng hạn, trong bối cảnh khủng hoảng chính phủ sẽ giảm hạn ngạch đối với lao động nhập cư, ngược lại, khi thấy tình trạng thiếu nhân công thì chính phủ sẽ tăng hạn ngạch. Không có lý do để từ bỏ hạn ngạch.

Tờ Novye izvestya nhận xét, cần thừa nhận rằng cơ chế hạn ngạch đã bị vô hiệu hóa ngay từ khi nó mới được áp dụng vào năm 2008. Vào mùa Hè năm đó hạn ngạch 1,8 triệu người lao động nhập cư đã bị “kịch trần” và Nga buộc phải tăng lên 3,4 triệu người. Trong năm 2009 hạn ngạch ban đầu là 3,9 triệu người nhưng đã bị giảm một nửa do khủng hoảng kinh tế nhằm giữ chỗ làm việc cho công dân Nga. Khi công nhân nước ngoài hiểu rằng sẽ có rất ít việc làm tại Nga thì tự họ tự bỏ về nước. Do đó nếu nói rằng chính sách hạn ngạch điều chỉnh được tình hình trên thị trường lao động thì không chính xác. Đúng ra chính phủ chỉ đơn giản là ghi nhận tình hình trên thị trường lao động để điều chỉnh hạn ngạch.

Tuy nhiên, sau cơn khủng hoảng kinh tế Nga vẫn quyết định đi theo hướng giảm hạn ngạch lao động nhập cư. Năm 2010 cho phép 1,94 công nhân nước ngoài được phép vào Nga, năm 2011 chỉ cho phép 1,7 triệu người, năm 2012 sẽ giảm tiếp 200.000 người. Chính quyền cho rằng điều này thích ứng với nhu cầu tuyển dụng của giới chủ.

Lý lẽ chính của phe phản đổi hủy hạn ngạch là nếu không có hạn ngạch thì nước Nga sẽ “tràn ngập dân nhập cư”. Ông Evgeny Fedorov, Chủ tịch Ủy ban Đuma Quốc gia về chính sách kinh tế doanh nghiệp, khẳng định: “Hệ thống hạn ngạch cho phép điều chỉnh thị trường lao động. Nếu không có hạn ngạch thì chắc chắn việc kiểm soát dòng người nhập cư sẽ lỏng hơn. Chúng ta không thể đưa người nhập cư tới nơi có nhu cầu tuyển dụng cao”.

Phe ủng hộ việc hủy bỏ hạn ngạch cho rằng cơ chế hiện tại không ngăn chặn được việc  nhập cư bất hợp pháp, ngược lại là đẳng khác. Thứ nhất, chính quyền không để lại cho giới chủ bất kỳ sự lựa chọn nào – nếu hạn ngạch hết nhưng vẫn cần nhân công thì doanh nghiệp buộc phải thuê người nhập cư bất hợp pháp. Thứ hai, người lao động nước ngoài chẳng bận tâm tới hạn ngạch vì biết rằng thị trường nhân công nước Nga cần đến họ và thế là tiếp tục kéo đến. Hậu quả là, theo số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tại Nga có từ 3 đến 4 triệu người nhập cư bất hợp pháp. Hạn ngạch chẳng thay đổi được tình thế trong một thời gian dài.

Theo Tầm nhìn