Nếu không được đầu tư tiếp, sẽ “đắp chiếu” sau 3 năm tới
Theo thống kê của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn (Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Phòng), đến hết năm 2009, toàn thành phố có 86% dân số nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Theo thống kê của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn (Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Phòng), đến hết năm 2009, toàn thành phố có 86% dân số nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Trong đó, 36% được cấp nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Song điều đáng quan tâm là so với năng lực cung ứng, công suất thiết kế các trạm cấp nước đã đi vào hoạt động, tỷ lệ này còn “khiêm tốn”.
Thừa công suất, thiếu người dùng
Chủ tịch UBND xã Vĩnh Phong (Vĩnh Bảo) Bùi Ánh Dương cho biết, năm 2005 được sự quan tâm của thành phố, xã đầu tư xây dựng trạm cấp nước sạch công suất 280m3/giờ. Khi đó, ngân sách xã khó khăn, không có vốn đối ứng, Công ty cổ phần CN Toàn Thắng bỏ vốn 100% đầu tư xây dựng bể, trạm, đường ống dẫn đến từng hộ. Song, đến nay, toàn xã mới có 88 /1.141 hộ sử dụng nước sinh hoạt do nhà máy cung ứng. Nguyên nhân của tình trạng, theo ông Dương, nhận thức của người dân về chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa cao. Vệ sinh chung quanh khu vực trạm cấp nước chưa bảo đảm. Thu nhập của người dân còn thấp, trong khi trước đó, họ đã đầu tư xây dựng bể nước mưa, giếng khoan.
![]() |
| Công nhân Nhà máy nước Vĩnh Bảo vận hành hệ thống máy bơm cấp nước sạch tới các hộ dân. Ảnh: Minh Trí |
Đây là tình trạng chung của nhiều hệ cấp nước trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo và thành phố. Tại các huyện: Tiên Lãng, An Dương, An Lão, Kiến Thụy…, hệ cấp nước tập trung được đầu tư xây dựng khá nhiều (khoảng 138 hệ cấp nước các loại ), nhưng khi đưa vào khai thác, hiệu quả chưa cao. Tỷ lệ người dân sử dụng nước sinh hoạt từ nguồn này mới đạt khoảng 50% công suất thiết kế. Theo Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn (Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Phòng), nhận thức của một bộ phận nhân dân nông thôn về vấn đề nước sạch và VSMT chưa đầy đủ. Nhiều người vẫn giữ thói quen, tập quán cũ, lạc hậu, như sử dụng nước ao hồ cho sinh hoạt. Mức sống của một bộ phận người dân nông thôn thấp, không có điều kiện đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt. Bên cạnh đó, lãnh đạo các cấp chưa thật sự quan tâm đến vấn đề này; công tác tuyên truyền chưa được chú trọng. Đầu tư ngân sách cho Chương trình cấp nước sạch và VSMT nông thôn thấp. Đa số người dân chưa quen với việc phải bỏ tiền đầu tư lắp đặt đồng hồ, đường ống dẫn nước để được dùng nước sạch và phải trả tiền hằng tháng.
Thành phố cần hỗ trợ, đầu tư tiếp
Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Vĩnh Bảo Phạm Văn Thiểm lo lắng: nếu không được “hà hơi, tiếp sức” nhanh chóng nguồn kinh phí từ thành phố, các sở, ngành chỉ khoảng 3 năm nữa, toàn bộ hệ cấp nước tập trung trên địa bàn huyện sẽ không phát huy tác dụng, lãng phí sẽ rất lớn. Cùng chung ý kiến với ông Thiểm, nhiều thành viên trong đoàn giám sát của Ban Văn hóa-Xã hội HĐND thành phố cho rằng, trước mắt cần tập trung nâng cao nhận thức của người dân nông thôn trong việc sử dụng nước sạch. Tiếp đó là cơ chế hỗ trợ, đầu tư tiếp của thành phố về đường ống dẫn nước từ trạm đến các thôn, xóm. Các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng nguồn nước phục vụ nhân dân. Theo đề xuất, kiến nghị của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, UBND thành phố xem xét bổ sung nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước đối với các công trình cấp nước sạch nông thôn, nhất là hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng đường điện, hồ lắng, lắp đặt hệ thống đường trục chính. Nhân dân đóng góp kinh phí lắp đặt hệ thống đường ống nhánh. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế, văn bản pháp quy về xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, có chính sách ưu tiên đối với chương trình này như: không thu lệ phí nước thô, ưu tiên giá điện…để các địa phương có cơ sở thực hiện, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia. Có cơ chế vay vốn ưu đãi thuận tiện để các cá nhân, tổ chức kinh tế có điều kiện thực hiện công trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.
Ghi nhận những kiến nghị, đề xuất của ngành, địa phương, để thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn Hải Phòng những năm tới, Phó chủ tịch UBND thành phố Đỗ Trung Thoại chỉ đạo: Ngành Nông nghiệp và PTNT (cơ quan thường trực) khẩn trương rà soát lại quy hoạch nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, thành phố gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, Sở Nông nghiệp và PTNT chủ động phối hợp với các sở, ngành rà soát lại cơ chế chính sách, tham mưu với thành phố điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách thực hiện chương trình; tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư; kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ dự án cấp nước; nâng cao chất lượng nguồn nước cung ứng; có biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt; tăng số lượng người dân sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch…Tiếp tục tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về nước sạch và vệ sinh nông thôn rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân…
Tiến Đạt
