Nắng chiều

Truyện ngắn của Phạm Thị Phong Lan                            

Thanh vẫn gọi người đàn ông đó là chú, dù cha Thanh kém ông cả chục tuổi. Lần đó, giữa trưa, Dân ghé qua chỗ Thanh, giới thiệu: “Chú Thái, bạn anh”.

Dân làm nghề tự do, bạn bè có đủ trong các giới. Lâu lâu hứng chí lại vác cái máy Zenis cổ lỗ lặn một hơi. Thanh pha trà mới. Người bạn của Dân nhìn hai chén trà bốc khói nhè nhẹ, hỏi: “Con không uống sao?” Giọng Nam bộ trầm, ấm gây cho Thanh cảm giác gần gũi: “Dạ, cháu không quen uống trà”. Dân cười ranh mãnh: “Cô bạn này không chịu được các chất kích thích đâu chú”. Cảm hứng sáng tác lần này là non nước chùa Hương. Thanh cầm lên tấm ảnh chụp hai cánh cửa gỗ, góc ghi hình từ phía trong hướng ra ngoài, nắng lọt qua khe cửa nửa khép nửa mở tạo thành một vệt dài in trên nền đất, ánh nắng nhạt và buồn. Có lẽ được chụp vào lúc ngày sắp tàn. Dân bảo: “Bức này chú Thái chụp”. Thanh ngước nhìn người đàn ông, bắt gặp ánh mắt lặng lẽ từ nãy đến giờ, khẽ thốt lên: “Cánh cửa này sắp đóng lại hay mở ra…”

Dân gom đống ảnh, nhét vào ngăn giữa cái ba lô ám bụi đường: “Thôi, anh về đây. Anh mời chú Thái về quê chơi mấy ngày”. Thanh tiễn khách xuống cầu thang, nhìn từ phía sau, mái tóc dài của người đàn ông được cột gọn sau gáy bằng một sợi thun đen, bất chợt lòng cô gợn lên một cảm giác nao nao khó tả.

Vài ngày sau Dân nhắn: “Chú Thái hỏi em còn làm thơ không?”. Thanh nhấn phím điện thoại bằng tay trái, tay phải vẫn click “chuột” vào tiêu đề mấy bản tin công nghệ mới nhất: “Anh bảo sao?” “Anh không biết người ta có thể làm thơ với hệ nhị phân được không?” Thanh dừng con trỏ giữa màn hình máy tính, nhìn chăm chăm nhưng chẳng đọc được gì. Điện thoại báo tin nhắn mới: “Anh đùa thôi. Đang đứng ở 1.285m so với mặt nước biển”. Thanh chưa bao giờ leo lên độ cao đó, mặc dù vẫn luôn tự hào với đám bạn thành phố về đỉnh núi mang nhiều huyền thoại quê mình. Hẳn là Dân đang “cao đàm khoát luận” về hình sông thế núi mà một thi sĩ nổi tiếng tài hoa, lãng tử khi xa đã chọn làm bút danh. Rồi lại ngâm nga mấy bài thơ “tủ” thuộc được từ thời sách giáo khoa chưa qua mấy lần cải cách. Chắc anh chàng lại ba hoa gì đó về mình với người bạn vong niên. Thanh bỗng nhớ đôi mắt của người đàn ông đó. Đẹp và u buồn. Ngay cả lúc cười vẫn không mất được vẻ hoang vắng. Như thể mọi niềm vui trên đời đều bị nhúng chìm vào nỗi u uẩn đặc quánh mênh mông suốt chừng đó năm tháng đời người. Một tâm hồn đã thấm mệt. Ngược lại, phong độ và dáng vẻ bề ngoài không có dấu hiệu của một thể chất muốn nghỉ ngơi. Có lẽ phải là cái thể trạng mạnh mẽ đó mới chứa đựng hết những giông gió của tâm hồn kia? Hay còn vì một lý do nào khác mà Thanh chưa lý giải rõ ràng được, cứ mỗi ngày một lớn dần lên, thành một ám ảnh?

*

Suốt buổi chiều xoá đi viết lại, vẫn chưa xong bài về sản phẩm phần mềm mới ra mắt của một công ty có quan hệ mật thiết với tạp chí. Thanh hiểu cái vỗ vai kín đáo của trưởng phòng: “AT JSC đang muốn mở rộng thị phần ở phía nam. Em lưu ý giúp chị nhé!”. Nghĩa là, trong bài phóng sự đóng vai trò quảng cáo ngầm này, người viết phải lồng ghép vào đó những đánh giá cao về tính năng vượt trội của sản phẩm, dù sự thật thì đó chỉ là một bản photocopy từ ý tưởng thiết kế đến kế hoạch triển khai. Điều quan trọng là nó được công nhận bằng một giải thưởng khá danh giá của ngành, sau khi đã xoá sạch dấu vết của một vụ đánh cắp chất xám. Thanh cắn môi. Những ngón tay vô thức lướt trên bàn phím, từng con chữ đẹp đẽ dần phủ kín màn hình…Tắt máy, ngồi thừ ra trước màn hình đen kịt. Cuối cùng thì mình cũng chỉ là kẻ đồng lõa với những trò gian dối này?

Điện thoại rung nhẹ trong góc bàn “Cháu về chưa? Chú đang ngồi ở cafe Bảo”. Thanh phóng xe lên đường Thanh Niên, gió từ Hồ Tây vuốt nhẹ những lọn tóc lòa xòa vương trên má. Quán trông ra hồ Trúc Bạch. Chiều muộn hẳn. Những tấm bảng quảng cáo bắt đầu nhấp nháy, nổi bật tên tuổi các hãng điện tử trên nền trời tím sẫm. Người đàn ông mang dáng dấp phong trần, hai bàn tay khô ráp lặng lẽ châm điếu thuốc lá quăn queo còn sót lại trong cái vỏ bao méo mó. Không biết từ khi nào, những lúc mệt mỏi vì công việc, Thanh luôn tìm cho mình sự cân bằng ở góc hồ này. Những ngón tay chai sần gieo trên phím ghi ta gỗ: Như loài chim bói cá/ Trên cọc nhọn trăm năm/  Ta tìm đời đánh mất/ Trong vũng nước cuộc đời… Những giai điệu thấm vào lòng Thanh giản dị mà da diết lắng sâu. Như tự sự, như tâm tình. Như có thể bật khóc vì những rung cảm tinh tế lay động trái tim mình. Hạnh phúc không chỉ là khi người ta hân hoan với niềm vui chiến thắng. Mà hạnh phúc,  nhiều khi lại là được nâng niu nỗi buồn của mình như một món quà của số phận. Bởi sau nỗi buồn và thất bại, con người ta mới biết học cách sống nhân bản hơn.

Ông Thái ít kể về mình. Thanh cũng không hỏi, luôn có một nỗi e dè chặn những câu hỏi ngừng lại. Có cái gì đó giống như sự bất nhẫn nếu cố tìm hiểu tại sao ở tuổi này, ông vẫn không có cho mình một mái ấm để đi về? Từ khi biết ông, Thanh cũng biết công việc của ông không ổn định. Mà toàn là những việc lao động chân tay. Nhưng việc không đều đặn. Ít có chủ hàng nào muốn (hay dám) thuê một người ngoài sáu mươi gò lưng khuân vác những sọt hoa quả, những thùng hàng đông lạnh mà ngay cả thanh niên còn phải toát mồ hôi… Những lúc không có việc, ông vẫn thường ra quán này ngồi. Chiều nay gọi cho Thanh, ông lại vừa mất việc. Một chủ thầu xây dựng sửa lại căn nhà cũ cho thuê mở trường mầm non tư thục. Ông muốn làm thêm một thanh dầm gia cố phía trên cửa ra vào cho chắc chắn, nhưng chủ nhà lại sợ tốn kém, dứt khoát không nghe: “Nhà tôi cho thuê, chết đâu tôi chịu”. Ông thu dọn đồ nghề: “Vậy thì thôi, tôi không làm cái việc thất đức đó được”. Nhiều lần Thanh muốn giúp ông chút ít nhưng lần nào cũng bị từ chối. Lòng tự trọng đến gần như kiêu ngạo của ông được Dân lý giải: “Chú ấy không muốn nhận sự cứu trợ nào khi thấy mình còn có thể lao động để kiếm sống”. Thanh băn khoăn: không lẽ ông cứ muốn kiếm sống bằng cách đày đọa bản thân mình như vậy? Dân im lặng. Cuộc sống vẫn còn có những góc khuất để cất giữ những điều không thể quên đi được.

Cứ ngỡ mình làngười lắng nghe, nhưng thực ra Thanh lại cảm thấy mình được chia sẻ nhiều điều khi gặp ông. Thanh không còn cảm thấy sợ cảm giác bơ vơ lạc lõng giữa bộn bề lo toan nữa. Vào những lúc rã rời cả niềm tin và sinh lực, Thanh thường nghĩ đến ông để gượng dậy, đặt tiếp những bước chân trên con đường tít tắp của mình. Có một cảm xúc rất lạ đang nhen lên trong lòng mỗi lần đến bên cạnh người đàn ông này. Không hẳn là nỗi nhớ hay sự chờ mong, mà là một điều gì đó, mới mẻ và ấm áp hơn nhiều. Đã bao lần Thanh thầm mong ước cha có một phần tinh tế, nhạy cảm ở ông, cha sẽ hiểu con mình hơn. Con người ta đâu chỉ cần trí thông minh và lòng dũng cảm, mà cuộc sống này còn có cả những giọt nước mắt yếu đuối để biết hết ý nghĩa của sự chở che.

 

Thanh theo một đoàn kỹ sư đi triển khai dự án hỗ trợ phát triển tin học ở mấy tỉnh miền núi phía Bắc tới gần nửa tháng. Về Hà Nội, phải đợi thêm hai tuần nữa để Dân hoàn chỉnh bộ ảnh về đời sống ngư dân vùng biển đang được bầu chọn kỳ quan thế giới. Gặp nhau, cả hai cùng kêu lên: “Khiếp! Sao mà đen thui thế này?” rồi lại rũ ra cười trước đống quà lưu niệm giống hệt nhau. Hóa ra chúng đều được làm từ những xưởng gia công của Trung Quốc.

 Dân chợt nhớ ra: “Anh không gọi được cho chú Thái, nghe mấy thằng ở chợ đầu mối bảo chú đang ốm nặng lắm.” Thanh sốt sắng: “Vậy mình đến thăm luôn đi anh” Dân lắc đầu: “Biết chú đang ở đâu mà thăm.” Cả hai ngồi thừ ra, không nghĩ được cách nào khả dĩ. Dân lục lọi ba lô, lôi ra một cuốn sổ bọc da đã sờn hết gáy: “Đây là tập thơ chú ấy gửi anh giữ hộ. Những bài này được viết trong chiến tranh…” Thanh lật từng trang giấy đã ố vàng, thứ mực lâu năm nhạt dần thành một màu xanh mơ hồ. Dưới mỗi bài đều được ghi rõ ngày giờ sáng tác, cứ như ghi nhật ký lịch sử. Một tâm trạng u uất chán chường bao trùm lên từng câu chữ, những khoảng sáng tối đan xen nhau, nỗi bế tắc của một người lính chiến. Thanh hơi ngạc nhiên, cha Thanh cũng có một cuốn sổ ghi lại những tháng ngày chiến đấu, nhưng không có dòng nào như thế này. Dân nhìn Thanh như đo từng nhịp phản ứng: “Chú Thái từng là lính cộng hòa, sĩ quan tâm lý chiến.” Một khoảng im lặng chen vào giữa hai người bạn. Thanh bước lại gần cửa sổ, khoanh tay đứng nhìn xuống con đường cuồn cuộn từng dòng xe miệt mài lăn bánh. Một lúc lâu sau, cô quay lại ngồi đối diện Dân: “Anh nói đi, tất cả những điều anh biết về ông ấy.”

…Quê gốc ở một làng ven sông Đáy, sau năm 1945 theo cha mẹ vào Sài Gòn. Là con trai duy nhất trong sáu người con, Thái được gửi đi học ở những trường dành cho con cái gia đình khá giả. Đàn hay, nhảy đẹp lại có thơ tình in trên các báo, Thái trở thành hình mẫu lý tưởng trong giấc mơ của bao tiểu thư đất Sài thành. Ước mơ lớn nhất của chàng trai mời tám tuổi lúc đó là trở thành phi công để được bay lượn cùng những đám mây, ngắm nhìn mọi vật từ trên cao và viết những vần thơ lấp lánh ánh sáng của muôn vì tinh tú. Rồi Thái vào học trường võ bị quốc gia Đà Lạt. Tiền tài, danh vọng như thứ bùa mê hút con người ta vào một niềm tin ngây ngất về sự thành công của chiến tranh xâm lược. Thái say sưa trong những luận điệu ru ngủ tâm hồn và ý chí đó, đem truyền bá nó với tất cả lòng nhiệt tình của mình. Ít nhiều, cũng đã có những thành công. Địa vị, thanh thế theo đó mà lên như diều gặp gió.

Giải phóng. Thời cuộc xoay chuyển nhanh chóng đến sững sờ. Vợ Thái vét gọn gia sản theo ngài sĩ quan cao cấp lên chuyến bay rút chạy đầu tiên. Gia đình phiêu tán khắp nơi, Thái trở lại nền nhà cũ, đứng giữa đống gạch đá đổ nát, chợt nhận ra cuộc đời mình đã thật sự tan nát. Sau khi đi học tập cải tạo, Thái rơi vào tâm trạng u uất suốt một thời gian dài. Tìm nhiều việc, chuyển nhiều nghề, nhưng cuối cùng vẫn không thể làm được công việc nào cho trọn vẹn. Cảm giác tội lỗi luôn đeo bám, hành hạ khiến Thái phải trốn vào những cuộc rượu triền miên cùng đám bè bạn cũ. Đến lúc giật mình tỉnh lại, thấy mình đã đi quá nửa đời người mà vẫn không biết sẽ đến đâu. Đúng vào ngày sinh lần thứ sáu mươi, vét nốt những tờ bạc còn sót lại trong túi, vừa đủ mua một tấm vé ra Hà Nội…

Dân gặp ông trên chuyến tàu đó. Một gã lãng tử lang thang. Một người đàn ông muốn tìm chốn dừng chân. Họ thành bạn, như Dân và Thanh vẫn là bạn bấy nay. Mối quan hệ không tính toán, chỉ duy nhất gắn kết với nhau bằng mối đồng cảm.

Một sự chấn động ghê gớm ập vào lòng. Thanh nghĩ đến cha. Mỗi khi trời trở gió, vết thương trong ngực làm cha đau đớn đến tê dại. Những lần bị cơn đau dạ dày hành hạ, cha ôm chặt chiếc gối vào bụng nghiến răng chịu đựng… Những đau đớn đó từ đâu? Nếu cha không phải trải qua tới mười năm luồn rừng lội suối, thèm đến héo ruột một cọng rau xanh, khát đến cháy lòng một khoảng không đủ rộng để hít thở thỏa thích…(Khi đó thì "ông ta" ở đâu? Sống như thế nào? Gây ra những chuyện gì?). Đến ngày hôm nay, cha đã có một cuộc sống đủ để bằng lòng, thì không còn sức khỏe mà tận hưởng nữa. Thời gian còn lại của cuộc đời cha, lẽ nào lại chỉ dành cho việc chống chọi với bệnh tật?

Dân khoác ba lô lên vai, nhẹ nhàng khép cửa lại phía sau lưng. Lát sau, có tin nhắn: “Thực ra anh đã đến thăm chú Thái. Anh muốn em cần phải biết tất cả để tự mình quyết định có đến gặp chú ấy lần cuối hay không. Hãy biết nhìn sâu vào bản chất của con người để cảm thông và chia sẻ…”

Chứng ho kéo dài sau đêm giao thừa lang thang dưới mưa phùn, gió lạnh khiến ông Thái suy kiệt nhanh chóng. Bàn tay khô gầy trong tay Thanh khe khẽ run lên, đôi mắt buồn chắt ra một dòng mặn chát. “Con…” Tiếng gọi nhẹ như hơi gió thoảng. Thanh hốt hoảng níu chặt những ngón tay lạnh dần, vỡ ra từng hồi nức nở.

Ba ngày sau đám tang, Dân đưa ông Thái lên chùa. Thanh thắp thêm một tuần hương, đứng lặng trong gian chùa nhỏ, lòng bỗng thấy nhẹ nhõm kỳ lạ. Mặt trời xuống dần phía sau núi, hắt lên nền trời những tia nắng cuối ngày. Phía tây rực lên một màu da cam chói gắt rồi từ từ chìm hẳn vào màn đêm yên bình.