Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đấu thầu
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khoá XVI, sáng 23/10, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi).
Hoàn thiện cơ chế ưu tiên, ưu đãi với sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình dự án Luật tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự án Luật được xây dựng nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đấu thầu nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, giải pháp đã được xác định trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Đổi mới phương thức quản lý hoạt động đấu thầu, chuyển trọng tâm từ quản lý quá trình sang quản lý chất lượng, hiệu quả và kết quả, sản phẩm đầu ra.
Dự thảo Luật bao gồm 8 Chương và 59 Điều, quy định một số nội dung cơ bản của. Trong đó, về các quy định được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về đấu thầu, dự thảo Luật phân định cụ thể các hoạt động đấu thầu, mua sắm thực hiện theo Luật này và theo pháp luật có liên quan.
Đồng thời, xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này và các luật có liên quan để đảm bảo tính khả thi, đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; bổ sung nguyên tắc áp dụng Luật Đấu thầu đối với thỏa thuận vốn ODA nhằm bao quát cả thỏa thuận về vốn ODA không hoàn lại.
Xác định rõ các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này nhưng trao quyền chủ động cho chủ đầu tư trong việc quyết định hoạt động đấu thầu, mua sắm các gói thầu, dự án này theo nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả.
Về các quy định được sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đấu thầu, dự thảo Luật bổ sung quy định về chính sách và nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đấu thầu, làm cơ sở xác định mục tiêu, định hướng chính sách và bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện; làm rõ khái niệm nhà thầu bao gồm cả “nhà thầu quản lý” nhằm trao quyền chủ động cho nhà thầu trong quản lý, tổ chức thực hiện gói thầu nhưng phải bảo đảm trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ, chi phí, hiệu quả; giao Chính phủ quy định các trường hợp áp dụng.
Bổ sung, hoàn thiện cơ chế ưu tiên, ưu đãi trong hoạt động đấu thầu đối với lao động là người cao tuổi, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược, hàng hóa xuất xứ Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đối tượng khác theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực; hoàn thiện quy định để ưu tiên tổ chức đấu thầu trong nướcnhằm góp phần hỗ trợ phát triển, nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.
Bổ sung cơ sở dữ liệu về giá theo hướng tích hợp, đồng bộ với cơ sở dữ liệu về hải quan, thuế… để làm cơ sở tham chiếu xác định giá gói thầu, tăng minh bạch, phòng ngừa tình trạng làm sai lệch giá gói thầu và phục vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát…
Về các quy định được sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa quy trình, thủ tục, rút ngắn thời gian thực hiện dự án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong hoạt động lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, dự thảo Luật đơn giản hóa, lược bỏ quy định và/hoặc thủ tục trung gian, không cần thiết như thủ tục sơ tuyển, mời quan tâm, kế hoạch tổng thể lựa chọn nhà thầu, phương thức hai giai đoạn...; lược bỏ quy định cơ quan, tổ chức được tự quyết định mua sắm đối với hàng hóa, dịch vụ có giá bán do Nhà nước định giá cụ thể để quy định tại Nghị định về việc áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ này.
Đơn giản hóa các hình thức lựa chọn nhà thầu theo hướng lược bỏ một số hình thức lựa chọn nhà thầu có quy trình thực hiện tương đồng để tích hợp vào một hình thức; tiếp tục quy định tiêu chí cơ bản áp dụng hình thức chỉ định thầu, mở rộng trường hợp áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án đầu tư công cần đẩy nhanh tiến độ; giao Chính phủ quy định chi tiết trường hợp chỉ định thầu; mở rộng trường hợp được áp dụng thủ tục đấu thầu trước đối với gói thầu cần đẩy nhanh tiến độ của dự án nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.
Về các quy định được sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu; xử lý vi phạm, giải quyết kiến nghị trong hoạt động đấu thầu, dự thảo Luật hoàn thiện quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư theo hướng bổ sung hành vi dàn xếp, thỏa thuận nâng khống giá gói thầu, dự toán; chia nhỏ dự án, dự toán mua sắm nhằm áp dụng hạn mức chỉ định thầu; làm rõ hành vi thông thầu, gian lận, không bảo đảm công bằng, minh bạch; chỉnh lý quy định về hành vi chuyển nhượng thầu để xác định rõ nội hàm của việc sử dụng nhà thầu phụ bất hợp pháp trên cơ sở xác định trách nhiệm của nhà thầu trong quá trình thực hiện hợp đồng, làm rõ hành vi nhà thầu giao trách nhiệm quản lý của mình theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư cho tổ chức, cá nhân khác...
Sửa đổi quy định về chế tài, thẩm quyền xử lý vi phạm theo hướng phân định thẩm quyền cấm tham gia đấu thầu giữa người có thẩm quyền với chủ đầu tư, bên mời thầu; bổ sung các chế tài như công khai thông tin vi phạm, đánh giá uy tín, khóa chức năng, tài khoản trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và các biện pháp xử lý khác.
Hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động đấu thầu theo hướng tăng cường giám sát thường xuyên dựa trên dữ liệu, thống kê, phân tích trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia nhằm kịp thời phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm; bổ sung cơ chế giám sát theo vụ việc, bảo đảm giám sát có trọng tâm, trọng điểm, theo kết quả đầu ra.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết kiến nghị trong hoạt động đấu thầu theo hướng chỉ giải quyết kiến nghị về kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thông qua chủ đầu tư, bên mời thầu hoặc Hội đồng giải quyết kiến nghị, không giải quyết thông qua người có thẩm quyền; thay thế cơ chế giải quyết kiến nghị hồ sơ mời thầu bằng cơ chế làm rõ, tăng cường cảnh báo, giám sát và xử lý vi phạm thông qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của các bên trong hoạt động đấu thầu nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu, nhà thầu, tổ chuyên gia...; tạo cơ sở cho việc thực hiện đúng trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.
Đề nghị tiếp tục xác định đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu để bảo đảm cạnh tranh
Trình bày báo cáo thẩm tra về dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Đấu thầu nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục, tăng phân cấp, phân quyền, khơi thông nguồn lực cho đầu tư phát triển và bảo đảm đồng bộ với các luật mới được ban hành. Hồ sơ dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2.

Cơ quan thẩm tra cũng chỉ ra rằng, Luật Đấu thầu năm 2023 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và tiếp tục được sửa đổi toàn diện theo trình tự, thủ tục rút gọn, với nhiều chính sách thay đổi lớn, phạm vi tác động rộng. Do đó, cần nhất quán tinh thần “thận trọng, chắc chắn, làm tốt từng khâu… không chạy theo số lượng” theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW và Kết luận số 19-KL/TW, đề nghị đánh giá thực chất tác động, chi phí, lợi ích và rủi ro của các chính sách lớn; chỉ sửa đổi những vấn đề đã đủ chín, đủ rõ từ thực tiễn; bảo đảm tính ổn định, thống nhất của hệ thống pháp luật và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm Luật được triển khai thống nhất, đồng bộ ngay khi có hiệu lực thi hành.
Về các hành vi bị cấm trong hoạt động đấu thầu, Cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát, xác định rõ chủ thể, hành vi vi phạm, bảo đảm phòng ngừa và xử lý đầy đủ các hành vi thông thầu, gian lận, xung đột lợi ích, làm lộ bí mật nhà nước.
Một số ý kiến cho rằng, việc chỉ cấm tổ chức lựa chọn nhà thầu khi chưa xác định được nguồn vốn nếu dẫn đến nợ đọng khiến việc xác định vi phạm phải chờ đến khi phát sinh hậu quả, gây khó khăn cho công tác phòng ngừa và xử lý vi phạm.
Đề nghị xác định rõ hành vi bị cấm tại thời điểm thực hiện, đồng thời quy định rõ các trường hợp được tổ chức lựa chọn nhà thầu khi chưa xác định nguồn vốn, nhất là gói thầu khẩn cấp, cấp bách và đấu thầu trước, thay vì chỉ xác định hành vi bị cấm khi đã phát sinh hậu quả nợ đọng vốn.
Về hình thức, phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản thống nhất với việc hợp nhất chào hàng cạnh tranh vào đấu thầu rộng rãi, mua sắm trực tiếp vào chỉ định thầu và bổ sung hình thức đàm phán cạnh tranh. Đề nghị tiếp tục xác định đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu để bảo đảm cạnh tranh; quy định rõ điều kiện, giới hạn áp dụng chỉ định thầu, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt và chỉ định nhà đầu tư, nhất là tiêu chí về lĩnh vực chiến lược, hạn mức chỉ định thầu, tránh thu hẹp cạnh tranh.
Đối với đàm phán cạnh tranh, cần bảo vệ bí mật kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ, có căn cứ kiểm chứng khách quan về giá; đồng thời tăng cường kiểm soát và trách nhiệm giải trình của chủ đầu tư.
Bên cạnh đó, Cơ quan thẩm tra cũng chỉ ra, dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết nhiều nội dung tại 38 điều, trong đó có những nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh và quyền tham dự thầu, như quy định trường hợp nhà thầu nước ngoài không phải liên danh, sử dụng nhà thầu phụ trong nước; bổ sung trường hợp chỉ định thầu và các hình thức lựa chọn nhà thầu khác.
Do đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị quy định rõ ngay tại Luật các nguyên tắc, điều kiện và giới hạn áp dụng; giao Chính phủ quy định chi tiết trong phạm vi Luật cho phép, không mở rộng các trường hợp hạn chế cạnh tranh bằng văn bản dưới luật.
Ngoài ra, Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị nâng cao hiệu quả Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trong công khai, chia sẻ dữ liệu và giám sát hoạt động đấu thầu; bảo đảm tính độc lập trong giải quyết kiến nghị. Làm rõ điều kiện đấu thầu trước, cơ chế xử lý khi dự án thay đổi; bảo đảm việc sửa đổi hợp đồng, chuyển nhượng dự án không làm thay đổi các cam kết làm căn cứ lựa chọn. Hoàn thiện cơ chế lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, bảo đảm kiểm soát giá, đáp ứng yêu cầu chuyên môn và không làm gián đoạn hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Đồng thời, rà soát quy định chuyển tiếp, bảo đảm thống nhất, khả thi và không phát sinh khoảng trống pháp lý.