Mượn dải khăn vĩnh biệt Hà Thành
Ngày mồng 8 tháng 3 Nhâm Ngọ (25-4-1882), giữa mịt mù khói súng trong trận đánh không cân sức với quân Pháp, vị Tổng đốc thành Hà Nội dẫn mươi lính hầu chạy vào Võ Miếu. Đôi mắt đăm nhìn về phía quê nhà xa xăm, ông lặng lẽ gạt lệ, cắn ngón tay lấy máu viết tờ Di biểu dâng về triều rồi dùng dải khăn bịt đầu treo lên cây thắt cổ tự vẫn để giữ trọn tiết nghĩa.
Ngày mồng 8 tháng 3 Nhâm Ngọ (25-4-1882), giữa mịt mù khói súng trong trận đánh không cân sức với quân Pháp, vị Tổng đốc thành Hà Nội dẫn mươi lính hầu chạy vào Võ Miếu. Đôi mắt đăm nhìn về phía quê nhà xa xăm, ông lặng lẽ gạt lệ, cắn ngón tay lấy máu viết tờ Di biểu dâng về triều rồi dùng dải khăn bịt đầu treo lên cây thắt cổ tự vẫn để giữ trọn tiết nghĩa.
Vị Tổng đốc này tên là Hoàng Diệu, người làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông tên thật là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai. Ông sinh năm Mậu Tý (1829), trong một gia đình có truyền thống nho giáo, 6 anh em ông đều nổi tiếng là những người khoa bảng: Một phó bảng, ba cử nhân, hai tú tài. Một trong những hậu duệ của ông hiện tại là nhà toán học Hoàng Tụy.
Hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền
![]() |
| Chân dung Tổng đốc Hoàng Diệu. |
Năm 1880, khi đương chức Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Bắc Ninh), ông đối mặt với tình hình căng thẳng giữa triều đình Huế và quân Pháp, ráo riết chuẩn bị và sẵn sàng đối phó với thực dân, mặc dù không được sự đồng thuận của vua Tự Đức.
Ngày 25-4-1882, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Ninh đòi phải giao nộp thành Hà Nội, giải giới quân đội. Hoàng Diệu tiếp tối hậu thư, chưa kịp trả lời thì Rivière đã mở cuộc tấn công với hơn 4.000 bộ binh cùng sự yểm trợ của 4 tàu chiến. Quân Pháp vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân Hà thành dưới sự chỉ huy của quan Tổng đốc. Đúng lúc đó, kho thuốc súng của Hà Nội nổ tung gây nên đám cháy lớn làm cho lòng quân hoang mang. Quân Pháp thừa cơ phá được cổng Tây ùa vào thành Hà Nội. Các quan dưới trướng Tổng đốc kẻ bỏ thành mà chạy, kẻ trốn trong hành cung.
Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn bình tĩnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống giặc. Cuối cùng, ông ra lệnh cho tướng sĩ giải tán để tránh thương vong, một mình vào hành cung, cắn ngón tay lấy máu viết Di biểu rồi ra trước Võ Miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự vẫn. Tờ di biểu tạ tội với vua có đoạn: Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...
Cái chết lẫy lừng - cả đời trung nghĩa
9 năm trước đó, thành Hà Nội đã thất thủ lần thứ nhất sau khi quân Pháp bất ngờ đánh úp, vị tướng trấn giữ lúc này là Nguyễn Tri Phương bị thương, tuyệt thực mà chết. Sau khi Hà Nội thất thủ lần thứ hai, sĩ phu nơi đây đã sáng tác nhiều điếu văn, câu đối, thơ ca bày tỏ lòng cảm phục, sự thương tiếc đối với cái chết bất tử của hai vị đại thần, trong đó nổi tiếng hơn hết là Hà thành chính khí ca.
Hà thành chính khí ca gồm 140 câu thơ lục bát, trong đó dành phần lớn ca ngợi gương hy sinh lẫm liệt của Hoàng Diệu và tỏ nỗi căm giận đối với những viên quan đã phản bội, chạy trốn hay đầu hàng giặc Pháp. Vần thơ về Hoàng Diệu đầy cảm khái và bi tráng: Một cơn gió thảm mưa sầu,/ Đốt nung gan sắt, dãi dầu lòng son./ Chữ trung còn chút con con,/ Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây… Hai lần thất thủ Hà thành, hai gương trung liệt lưu danh hậu thế: Long thành thất thủ hai phen,/ Kho tàng hết sạch, quân quyền dời tan./ Đổi thay trải mấy ông quan,/ Quyên sinh tựu nghĩa, có gan mấy người?/ Trước quan Võ hiển khâm sai (chỉ Nguyễn Tri Phương), / Sau quan Tổng đốc (chỉ Hoàng Diệu) một vài mà thôi.
Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương được thờ trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa với câu đối: Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa/ Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên. (Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất/ Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh).
Hơn một tháng sau khi Hoàng Diệu mất, gia đình đã đưa thi hài ông về an táng ở làng Xuân Đài. Lăng mộ ông đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia. Sơn Nam, nhà văn đương đại, trong lần về thăm quê ông đã cảm khái: “Đi thăm mộ Hoàng Diệu, (nghe) lúc làm quan, có lần ông gửi về cho mẹ một vóc lụa. Bà mẹ không nhận, gửi trả lại cho con, kèm theo một nhánh dâu, tượng trưng cho ngọn roi, để cảnh cáo đứa con đừng nhận quà cáp gì của dân”.
Trên lăng mộ ông còn ghi lại câu đối của Tôn Thất Thuyết viếng ông ngày xưa, ca ngợi cái chết lẫm liệt của người con Quảng Nam giữa thành Hà Nội: Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện/ Bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm. (Cái chết lẫy lừng, từ trước anh hùng nào muốn thế/ Cả đời trung nghĩa, đang cơn đại nạn há ngơ sao).
Lê Huỳnh

