Mua phải ma túy giả về sử dụng, người mua vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
(PLVN) - Bạn Phan H hỏi: Xin hỏi, trường hợp người mua chất ma túy về sử dụng nhưng khi bị lực lượng công an bắt mới biết đó là ma túy giả, thì đối tượng này có bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) không? Người bán biết ma túy là giả nhưng vẫn bán cho người khác thì bị truy cứu với tội danh nào?
- Luật sư Bùi Đức Nhã - Công ty luật TNHH Tuệ Anh: Liên quan đến ma túy, căn cứ theo tiểu mục 1.1, Mục 1 Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP) quy định:
Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Trong đó, cần phân biệt các trường hợp:
Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính, trọng lượng chất ma túy đó.
Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin.
Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà phải xác định hàm lượng moócphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện.
Quay trở lại với vấn đề trên, cần phải căn cứ vào ý thức của người mua khi đó. Trường hợp người đó không biết chất đó là ma túy giả, căn cứ khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08/2015 quy định, nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu TNHS người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng với các tội phạm về ma túy.
Như vậy, dù chất ma túy mà người mua mang về là giả, nhưng họ có ý thức rằng chất đó là chất ma túy thì vẫn có căn cứ truy cứu TNHS. Tuy nhiên, để xác định tội danh chính xác đòi hỏi hồ sơ và tài liệu, chứng cứ cụ thể.
Đối với người bán biết chất ma túy giả nhưng vẫn bán cho người khác, căn cứ theo khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08/2015 quy định: Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu TNHS về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu TNHS về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cụ thể, theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân. Để biết chính xác mức phạt tù đối với người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội trong từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 - 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu TNHS về các tội danh và điều khoản tương ứng.