Một số vấn đề trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, đến nay, trên địa bàn thành phố có 157 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đầu tư 2,6 tỷ USD, tổng vốn thực hiện ước đạt 1,04 tỷ USD.
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, đến nay, trên địa bàn thành phố có 157 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đầu tư 2,6 tỷ USD, tổng vốn thực hiện ước đạt 1,04 tỷ USD.
Trong 157 dự án còn hiệu lực, có 95 DN đang hoạt động với doanh thu trong 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 98 triệu USD, tăng 4% so cùng kỳ năm 2008; trong đó, xuất khẩu ước đạt 65 triệu USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2008; tiêu thụ trong nước đạt 33 triệu USD, bằng cùng kỳ năm 2008; nhập khẩu ước đạt 30 triệu USD, bằng 93% so với cùng kỳ năm 2008; nộp ngân sách ước đạt 5,4 triệu USD, tăng 7,05% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng số lao động có việc làm trong các DN này là 34 nghìn người, giảm 1.000 lao động so với cuối năm 2008. Công tác quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài của thành phố theo trình tự hợp lý, thủ tục được đơn giản hóa, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại địa phương.
Mặc dù chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, nhưng trong 6 tháng đầu năm 2009 đã có 12 dự án FDI được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đầu tư hơn 152 triệu USD. Các DN trong khối này SXKD tương đối ổn định, giá trị sản xuất công nghiệp chiếm từ 33-34% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn thành phố. Kim ngạch xuất khẩu hằng năm của DN FDI chiếm bình quân 31-32% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thành phố; nộp ngân sách chiếm tỷ lệ 10%-12% tổng thu ngân sách của thành phố.
DN FDI góp phần đổi mới công nghệ, phát triển thị trường, đổi mới sản phẩm, phát triển các ngành công nghiệp chế biến, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Việc thu hút được các dự án đầu tư lớn, ngành nghề dịch vụ đang tạo thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của thành phố đến năm 2010 theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp. Hằng năm, thành phố tổ chức các hội nghị, các cuộc gặp gỡ với các DN FDI để tháo gỡ những vướng mắc trong SXKD.
Tuy vậy, nguồn vốn đầu tư đăng ký tăng lên nhưng việc triển khai dự án còn chậm; lượng dự án tăng, song số dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ nguồn còn ít. Tình trạng một số nhà đầu tư đăng ký để chiếm giữ vị trí, mặt bằng mà chậm triển khai hoạt động vẫn còn. Chi phí vận tải hàng hóa đi từ Cảng Đà Nẵng vẫn còn cao hơn so với xuất hàng đi từ các cảng ở TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng, vì vậy, các DN phải tốn phí trung chuyển làm tăng giá thành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh.
Bên cạnh đó, nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, phụ tùng từ các DN Đà Nẵng, miền Trung cho DN FDI còn rất hạn chế. Quy mô thị trường khu vực miền Trung nhỏ, sức mua còn thấp. Lao động tuy dồi dào, trẻ nhưng kỹ năng lao động không cao, ngoại ngữ yếu, chưa được đào tạo cơ bản còn nhiều… Một số đối tác tầm cỡ như châu Âu và Hoa Kỳ đầu tư chưa lớn và chưa tương xứng với tiềm năng của họ.
Một vấn đề đáng quan tâm nữa là, một số DN FDI không thực hiện đúng những quy định của luật pháp về việc sử dụng lao động là người Việt Nam, như kéo dài thời gian học nghề, không thực hiện đúng chế độ bảo hiểm xã hội, kéo dài thời gian lao động trong ngày.
Một số dự án FDI khi đầu tư vào Việt Nam đã đưa vốn đầu tư lên cao, sau đó lấy giấy tờ đất thuê dài hạn cầm cố, thế chấp với ngân hàng Việt Nam vay vốn. Khi rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải chịu. Trường hợp này xảy ra không chỉ với các dự án về sản xuất mà còn có các dự án về kinh doanh bất động sản. Đơn cử như Dự án Công ty Kim Khánh Nguyên lấy giấy tờ đất thuê 42 năm trong KCN Hòa Khánh vay Ngân hàng Hàng hải Đà Nẵng 8 tỷ đồng, vay của Ngân hàng NN và PTNT 3 tỷ đồng, toàn bộ khoản nợ 11 tỷ đồng này không thể thu hồi được, chủ đầu tư đã bỏ trốn.
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, cần có một số giải pháp, trong đó cần tập trung đẩy mạnh vốn giải ngân, giảm khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện; tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa các sở, ngành liên quan. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm soát sau cấp phép, nhằm hướng dẫn việc thực hiện đúng pháp luật và ngăn chặn các vi phạm. Tiếp tục rà soát các dự án để có hình thức xử lý phù hợp, hỗ trợ dự án nhanh chóng triển khai sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án không triển khai đúng tiến độ cam kết. Phối hợp với các cơ quan chức năng theo dõi, giải quyết kịp thời việc đình công, bãi công của công nhân trong KCN. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, công nghệ cao, công nghệ nguồn, phù hợp với yêu cầu về bảo vệ môi trường. Phổ biến các cam kết của Việt Nam với WTO cho các DN FDI, đặc biệt các DN phân phối, nhất là việc lập cơ sở kinh doanh thứ 2 sau cơ sở chính, quyền nhập khẩu và xuất khẩu của DN FDI theo đúng các quy định của Nhà nước.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các thủ tục đầu tư đối với đối tượng nhà đầu tư là Việt kiều; có hướng dẫn cụ thể việc xử lý các dự án đầu tư nước ngoài vay vốn từ ngân hàng Việt Nam khi “bỏ trốn” hoặc “gạt nợ” và trốn khỏi Việt Nam. Hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản trong trường hợp này. Hỗ trợ kinh phí xúc tiến đầu tư về cho địa phương để tăng cường năng lực xúc tiến đầu tư...
DÂN HÙNG